Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh Học. Hiển thị tất cả bài đăng

7/5/20

Bệnh Học Ung thư hố mũi

Bệnh Học Ung thư hố mũi

Ung thư hố mũi có thể gặp ở mọi lứa tuổi, ở trẻ em thường là saccôma, ở người lớn thường là êpitêliôma.

Êpitêliôma thường thấy là loại tế bào trụ, tế bào lát hay tế bào gai. Đôi khi có cả ung thư của liên bào ít biệt hoá, loại này nhạy cảm với quang tuyến X.

U trụ (cylindrome) được xếp vào loại ác tính nhưng tiên lượng của nó tương đối tốt.

Saccôma hiếm hơn êpitêliôma. Nó thường khu trú ở vách ngăn và đôi khi ở cuốn mũi hoặc ngách mũi. Bệnh tiến triển nhanh, ít di căn vào gan như những saccôma khác. Saccôma tế bào xơ (sarcome fibroblastique) chiếm đa số, so với saccôma tế bào lyphô non (sarcome limphoblastique). Saccôma nhiễm hắc tố và u thần kinh cảm giác (esthésio neurome) khá hiếm.

Nói chung ung thư ở tầng khứu giác nhiều hơn ung thư ở tầng hô hấp. Hầu hết những ung thư ở tầng khứu giác đều lan vào xoang sàng hoặc xoang hàm và đôi khi vào xoang bướm. Ung thư mũi ít khi tràn lên xoang trán.

Các loại u ác tính ở mũi ít gây ra di căn và hạch bị xâm nhập muộn.

Bệnh tăng võng (resticulose) ở mũi có thể lành tính hoặc ác tính. Chúng tôi sẽ nói về vấn đề này trong bài bệnh tăng võng trong tai mũi họng.

1         Triệu chứng
Các u ác tính ở mũi có triệu chứng gần giống nhau dù là êpitêliôma hay saccôma. Tiến triển của bệnh gồm hai giai đoạn lớn : giai đoạn khu trú trong mũi và giai đoạn tràn lan ra các bộ phận khác.

1.1      Giai đoạn khu trú.
Bệnh bắt đầu bằng ngạt mũi và chảy mũi. Chất chảy ra là tiết nhầy hoặc tiết nhầy mủ giống như viêm mũi mạn tính. Đôi khi bệnh nhân xì ra có tí máu lẫn với tiết nhầy. Những triệu chứng này ngày càng tăng và chỉ khu trú ở một bên mũi. Soi mũi trong thời kỳ này ít khi thấy được khối u.

Vài tháng sau, khối u phát triên to lên, bệnh nhân tắc một bên mũi và có khi hở một bên tai. Bệnh nhân bắt đầu đau ở vùng trán, chung quanh hố mắt hoặc nửa bên đầu.

Soi mũi sau khi lau sạch mủ và nhỏ côcain - adrenalin sẽ thấy khối u.

Saccôma hay khu trú ở phần trước của vách ngăn, dưới dạng một khối u nhẵn màu vàng hoặc màu đỏ sẫm, làm phồng sụn tứ giác lên. Dùng que trâm thăm dò thấy khối u chắc và dính liền với vách ngăn, không có cuống.

Trái lại êpitêliôma thường bắt đầu ở ngách giữa và thể hiện bằng một vết loét sần sùi, bờ không đều, dễ chảy máu trên một niêm mạc thâm nhiễm và đỏ bầm. Trước vết loét có thể có vài pôlyp nhỏ. Trong giai đoạn này hạch dưới hàm và ở cổ chưa bị ung thư xâm nhập.

Soi mũi sau có thể thấy tổ chức sùi thòi ra ở ngách giữa, nhưng nó không vượt ra khỏi lỗ mũi sau.

Soi bóng mờ thấy xoang hàm bên bệnh không sáng.

Vách ngăn có thể bị dồn về phía bên lành.

Chụp X quang theo tư thế Blôngđô (Blondeau) sẽ thấy xoang sàng bị mờ, nhưng đó chỉ là phản ứng hoặc viêm nhiễm thêm.

Sinh thiết rất cần cho chẩn đoán, nhưng phải làm đi làm lại nhiều lần mới có kết quả vì dễ cắt nhầm vào tổ chức viêm hay nát rữa.

1.2      Giai đoạn lan rộng.
Sang giai đoạn này ung thư lan rộng vào các bộ phận lân cận… Các triệu chứng trở nên phong phú và việc chẩn đoán cũng không còn khó khăn nữa.

Nếu là ung thư vách ngăn thì nó sẽ làm thủng sụn và lan sang hố mũi bên kia. Đồng thời ung thư cũng phát triển lên phía trên và đẩy dồn xương chính của mũi ra phía trước. Ung thư cũng có thể phát triển xuống dưới sàn mũi và làm thủng xương hàm ếch.

Nếu là ung thư ở ngách giữa nó sẽ tràn vào xoang sàn và xoang hàm gây ra đau dưới ổ mắt. Khối u cũng có thể lấn xương giấy, đẩy dồn nhãn cầu về phía ngoài, chèn ép lệ đạo hoặc phá vỡ xương giấy xâm nhập vào ổ mắt gây ra ltê liệt các cơ mắt và mù mắt.

Nếu là ung thư ở phần sau của mũi, có sẽ chiu ra cửa mũi sau và chiếm lấy vòm mũi họng, đồng thời bệnh nhân có những triệu chứng viêm xoang bướm: nhức đầu sau gáy, mờ xoang bướm, viêm thần kinh thị giác sau nhãn cầu.

Ung thư cũng có thể tràn len khe khứu giác, tiêu huỷ mảnh sàng, bộc lộ màng não với những hậu quả tai hại như viêm màng não, apxe não.

Chụp X.quang giúp chúng ta rất nhiều trong việc định khu và đánh giá sự tràn lan của ung thư. Người ta thường chụp theo ba tư thế:

- Tư thế trán mũi phim hay sọ thẳng (steen huis) để xem xoang sàng và xoang trán.

- Tư thế cằm đỉnh (Hirtz) để xem xoang sàng và xoang bướm.

- Tư thế bán diện (profil) để xem nền sọ.

Ngoài ra chúng ta còn có thể chụp cắt lớp (tomỏgaphic) theo hình diện trán : chụp 4 lớp, mỗi lớp cách nhau 1 cm bắt đầu từ góc ngoài của mắt.

X quang sẽ cho chúng ta thấy ba loại thương tổn: mờ đục, tiêu xương và đẩy dồn. Nếu chỉ có một trong ba hình ảnh nói trên thì chưa thể khẳng định là ung thư được, nhưng nếu ba loại thương tổn đó có đầy đủ trên một phin thì rất khả nghi là ác tính.

Hình ảnh mờ đặc trưng của xoang không có nghĩa là xoang bị ung thư hoá, viêm xoang cũng có những bóng mờ tương tự.

Biến diễn của ung thư mũi kéo dài từ một đến ba năm. Bệnh nhân sẽ chết vì suy mòn, vì chảy máu, vì biến chứng viêm nhiễm nội sọ hoặc ở phổi. Trong bệnh này di căn tương đối hiếm.

2         Chẩn đoán
Chẩn đoán ung thư ở mũi cũng như ung thư ở chỗ khác đều dựa vào sinh thiết. Riêng ở mũi phải hết séc dè dặt. Một sinh thiết âm tính không có nghĩa là bệnh nhân không có ung thư.

Như chúng ta đã nói ở phần trên, ung thư có thể ở trong sâu và bị che đậy bởi một lớp pôlyp lành tính mà khi làm sinh thiết chúng ta bấm phải.

Nếu sinh thiết âm tính cần phải đi làm lại nhiều lần, ở nhiều chỗ khác nhau và trong những thời gian khác nhau.

Trong khi chẩn đoán cần phải phân biệt với các bệnh :

- Ung thư xoang sàng - hàm trong có ung thư bắt đầu ở xoang, còn ở đây ung thư bắt đầu ở mũi, nhưng lúc ung thư mũi đã lan đến xoang thì hai bệnh đều giống như nhau.

- Granulôm ác tính ở giữa mặt : sinh thiết luôn luôn âm tính.

- Luput mũi : dựa vào sinh thiết.

- Giang mai mũi : dựa vào phản ứng B.W và sinh thiết.

- Pôlyp chảy máu của vách ngăn : làm sinh thiết bằng dao điện để tránh chảy máu. Vả lại bệnh tiến triển rất chậm, không có tính chất xâm lăng như ung thư.

3         Điều trị
Chúng ta có thể điều trị bằng phẫu thuật hoặc bằng quang tuyến X; nhưng tốt hơn là nên phối hợp cả hai : phẫu thuật và quang tuyến.

Phẫu thuật : rạch mũi ra để bộc lộ thương tổn, dùng đông điện tiêu diệt toàn bộ khối u, xong rồi khâu lại. Độ 15 hôm sau chúng ta gửi bệnh nhân đi áp quang tuyến Rơnghen.

Phương pháp quang tuyến X đơn thuần chỉ dành để cho những trường hợp quá nặng, không mổ được và chỉ có tác dụng tạm bợ.

Người ta có thể dùng Coban liệu pháp thay Rơnghen liệu pháp.



Read More

5/5/20

Bệnh Học Rinôsclêrôm (Viêm xơ mũi)

Bệnh Học Rinôsclêrôm (Viêm xơ mũi)

Rinôsclêrôm là một bệnh nhiễm trùng mạn tính ở đường hô hấp trên trong đó niêm mạc và tổ chức dưới niêm mạc bị thâm nhiễm, xơ hoá và trở nên dày cứng làm tắc cả mũi.

Niêm mạc của đường hô hấp trên (mũi, vòm họng, thanh quản) bị thâm nhiễm từng mảng. Thâm nhiễm lan vào các tổ chức cơ, sụn, xương và biến những tổ chức đó thành khối xơ.

Đặc điểm của rinôselểôm là giữa những tế bào xơ có những tiểu thể Rusel và tế bào to có hốc rỗng gọi là tế bào Mikulez. Người ta còn tìm thấy trong tổ chức đó những trực trùng có bọc gống như cái đinh gọi là vi trùng Frisch.

1         Triệu chứng
Bệnh bắt đầu bằng những triệu chứng của viêm mũi mạn tính: chảy nước mũi nhầy, xụt xịt mũi. Đôi khi có chảy máu cam, nhưng không nhiều lắm.

Soi mũi thấy ở hai tiền đình có khối u màu hồng, da căng nhẵn bóng, không loét, có nhiều tia máu, che lấp hố mũi. Khối u xuất phát từ niêm mạc vách ngăn, niêm mạc cuốn mũi hoặc từ da tiền đình, tiến từ chu vi vè trung tâm. ấn vào khối u không đau, chấm côcain, adrênalin vào, khối u không teo. Tháp mũi phình to ra, hai cánh mũi cứng như giấy bìa và mất di động, môi trên trở nên dày và cứng. Bệnh nhân không thở đường mũi được.

Dần dần thương tổn lan đến cửa mũi sau, đến họng miệng, đến màn hầu, đến trụ amydan làm cho bệnh nhân khó nuốt và nói ngọng.

Với thời gian, năm mười năm sau, bệnh phát triển vào hạ họng, vào thanh quản, vào khí quản, làm cho bệnh nhân khó thở, khó nói.

Suốt trong quá trình biến diễn, khối u không loét và không gây ra đau đớn.

Tiên lượng xấu : Bệnh kéo dài từ mười đến mười lăm năm và bệnh nhân sẽ chế vì viêm phổi hoặc lao phổi hoặc ngạt thở.Trong khi chẩn đoán nên phân biệt với các bệnh sau đây:

- Luput : Bệnh này có loét niêm mạc và chỉ làm hẹp lỗ mũi chứ không biến hai cánh mũi thành khối u cứng. Trong trường hợp nghi ngờ nên làm sinh thiết và phản ứng Goldsheider (lấy máu như là thử B.W. để thử rinôsclêrôm).

- Giang mai mũi đã thành sẹo ở mũi và ở họng: sẹo giang mai là sẹo dúm còn trong rinôsclêrôm thì niêm mạc phồng lên và cứng, hình thành khối u rõ rệt.

- Tăng võng quá phát (réticulose hy-perplasique) như bệnh Boesnier - Boeck - Schaumann có thể gây ra thâm nhiễm cục bộ ở tháp mũi giống rinôsclêrôm nhưng lại có kèm theo những hòn trên da ở nhiều nơi khác. Sinh thiết giúp chẩn đoán ra bệnh.

2         Điều trị
Điều trị bệnh rinôsclêrôm hiện nay còn là một vấn đề nan giải.

Người ta dùng quang tuyến X, đông điện… nhưng không có kết quả.

Streptomyxin với liều lượng cao (150) có đem lại kết quả khả quan trong giai đoạn đầu, nhưng khi hai lỗ mũi đã tắc tịt thì thuốc này không có tác dụng.

Nếu thanh quản bị tắc thì nên mở khí quản lại. Còn nếu khí quản bị tắc nữa thì không cứu được.



Read More

4/5/20

Bệnh Học Pôlyp mũi

Bệnh Học Pôlyp mũi

Trên lâm sàng pôlyp mũi được coi như là một khối u nhưng về mặt cơ thể bệnh học thì không phải là một u thật sự. Pôlyp mũi (trừ pôlyp viêm) là những quá phát cục bộ của niêm mạc trong đó tổ chức đệm bị phù nền, căng phồng và mọng nước.

Pôlyp là hậu quả của phù nền kéo dài mà nguyên nhân có thể là dị ứng, viêm nhiễm mạ tính, suy nhược niêm mạc, rối loạn vận mạch…

Pôlyp là một khối mềm, hình trái soan có cuống hoặc không có cuốn màu hồng nhạt trong như thạch.

1         Thành phần của pôlyp:
- ở ngoài là một lớn biểu mô với những tế bào hình trụ lông chuyển đôi khi còn nguyên vẹn. Trong những pôlyp to lớn, lớp biểu mô này có thể thay đổi:

- Lớp đệm (chrrion) là một tổ chức liên kết trong đó các tế bào xơ ((fibro-blastes) cấu kết với nhau thành màng lới lỏng lẻo bị chất dịch phân tán.. Cấu tạo của chất dịch cũng gần giống như huyết tương nhưng có nhiều fibrin hơn.

Nếu pôlyp bị thòi ra ngoài lỗ mũi nó sẽ bị loét và xơ hoá. Các mạch máu phát triển nhiều và pôlyp bién dạng gióng như là u mạch máu.

Trong pôlyp thường hay có những nang đỏ do các tuyến nhầy tạo ra, chứa đựng chất nhầy trắng giống như mủ.

Người ta còn thấy trong pôlyp có những tế bào viêm như là lymphô cầu, plasmô cầu, đơn nhân cầu, tế bào đa nhân ái toan…

Niêm mạc mũi và viêm mạc xoang giống nhau nên pôlyp xoang cũng có những đặc điểm giống hệt pôlyp mũi.

2         Triệu chứng.
1.                          Pôlyp mũi bắt đầumột cách từ từ, bệnh nhân bị ngạt mũi ngày càng tăng ngạt một bên hoặc hai bên, có kèm theo cảm giác căng ở trán, hoặc nặng đầu. ở một số bệnh nhân lại có kèm theo hắt hơi, chảy nước mũi, cay mắt giống như là viêm mũi dị ứng. Những rối loạn này xuất hiện tuỳ theo độ ẩm và nhiệt độ của không khí, tuỳ theo thời tiết.

2.                          Soi mũi trong giai đoạn đầu chỉ thấy cuốn giữa bị quá phát, niêm mạc của ngách giữa bị phù nề, có một vài pôlyp nhỏ lẩn dưới cuốn giữa.

Dần dần pôlyp to lên và thòi ra khỏi ngách mũi. Khối u này nhẵn, mềm màu xám nhạt hoặc hơi vàng. Chúng ta có thể theo dõi nó đến tận gốc ở ngách giữa. Nếu có nhiều pôlyp thì chúng chen chúc với nhau ở ngách giữa như chùm nho và có thể bịt kín cả lỗ mũi. Khi bôi côcain hay êphêdrin, pôlyp không co lại.

Pôlyp có thể to bằng ngón tay cái hoặc nhỏ bằng hạt gạo. Loại pôlyp nhỏ khó nhìn thấy và thường bị sót khi điều trị.

Dùng que trâm thăm dò sẽ thấy pôlyp mềm, không đau và ít chảy máu. Que trâm còn giúp chúng ta tìm ra chân bám của pôlyp : nói chung chân bám thường ở ngách giữa nhưng có thể ở cuốn giữa. Que trầm còn giúp chúng ta phân biệt pôlyp với cuốn giữa thoái hoá : pôlyp không có cốt bằng xương, còn cuốn giữa có cốt xương.

Khi pôlyp phát triển to và thập thò ra cửa mũi trước hay cửa mũi sau thì nó bị biến dạng thành khối u đỏ, không bóng, chắc, dễ chảy máu. Cánh mũi bị pôlyp đẩy phòng lên.

Soi mũi giúp chúng ta phát hiện những pôlyp phát triển về sau. Pôlyp có thể vượt cửa mũi sau và thò ra vòm mũi họng.

Chụp X quang xoang rất cần thiết để phát hiện bệnh tĩchoang vì trong đại đa số trường hợp, pôlyp mũi chỉ là một triệu chứng của viêm xoang. Đôi khi cần phải bơm lipiôdol vào xoang mới phát hiện được bệnh tích xoang. Trong trường hợp có pôlyp xoang chúng ta sẽ thấy lipiôdol chỉ chiếm một phần hốc xoang và để lại một hình ảnh tròn đều, trong sáng.

Pôlyp biến diễn chậm, ngày càng to lên nhưng không ác tính hoá pôlyp làm trở ngại hô hấp và sự dẫn lưu do đó tạo điều kiện cho viêm nhiễm kéo dài vô tận.

Những pôlyp to có thể ảnh hưởng đến tai vì nó làm tắc vòi Ơstasi.





Hình 49. Pôlyp mũi Hình 50. Cắt pôlyp mũi

1. pôlyp ở phía trước; bằng thòng lọng

2. pôlyp ở giữa

3. pôlyp ở của mũi sau

3         Thể lâm sàng
Các thể lâm sàng như pôlyp đơn độc Killian, pôlyp cửa mũi sau hội chứng Woakes, bệnh pôlyp mũi (polypose) là những bệnh của  xoang nhiều hơn của mũi nên sẽ nói rõ ở phần viêm xoang mạn tính (trang 125).

4         Chẩn đoán
Có mấy điểm cần lưu ý:1. Chẩn đoán pôlyp thường hay nhầm với thoái hoá cuốn giữa. Phải dùng que trâm thăm dò mới phân biệt được. Không nên nhầm pôlyp với thoái hoá cuốn mũi vì điều trị hai bệnh khác nhau.

2. Pôlyp mũi thường đi đôi với viêm xoang mạn tính. Cần phải chụp điện để xem có viêm xoang không.

Điều trị pôlyp đơn thuần với điều trị viêm xoang mạn tính có pôlyp.

3. Pôlyp có thể che dấu một u ác tính của mũi: U ác tính ở tít trên cao tận xoang sàng, còn pôlyp lành tính ở ngay đầu cuốn giữa hoặc ở tiền đình. Vì vậy nên khi bệnh nhân có pôlyp và nhức đầu, chảy máu chúng ta phải nghĩ đến ung thư và làm những xét nghiệm cần thiết (chụp X quang, sinh thiết…).

Trong trường hợp pôlyp ở cửa mũi sau. Chúng ta có thể nhầm với u xơ vòm mũi họng. U xơ thường gặp ở tuổi thiếu niên và luôn luôn gây ra chảy máu nhiều.

5         Điều trị
Nếu là pôlyp đơn thuần, điều trị tương đói dễ : chỉ cần gây tê rồi lấy thòng lọng giật pôlyp sát tận chân bám.

Nhưng trên thực tế những trường hợp pôlyp đơn thuần như vậy rất hiếm đại đa số bệnh nhân có pôlyp đều có viêm xoang mạn tính. Vì vậy nếu chỉ cắt pôlyp mà không điều trị viêm xoang thì pôlyp sẽ mọc lại rất nhanh.

Điều trị các thể lâm sàng của pôlyp mũi do xoang sẽ được trình bày ở phần viêm xoang mạn tính (xem trạng 125).



Read More

3/5/20

Bệnh học U lành tính ở xoang

Bệnh học U lành tính ở xoang



1         U xương
U xương ở xoang tương đối hiếm. Bệnh này thường gặp ở người trẻ vào khoảng mười đến hai mươi tuổi.

U xương thường xuất phát ở xoang trán hay xoang hàm, ít khi ở xoang sàng. về sau khi u phát triển to, nó có thể xâm nhập vào hố mũi.

Đây là một khối xương cứng đặc ngà, gầm có nhiều lớp đồng tâm. Càng ngày nó càng lớn lên, đẩy dồn các bộ phận kế cận, và vẫn có một cái cuống nhỏ ở chỗ chân bám. U xương không hề thâm nhiễm vào tổ chức khác.

1.1      Triệu chứng
Bệnh bắt đầu một cách âm thầm không có triệu chứng. Khi nào lỗ thông của xoang bị tắc mũi lúc đó mới có triệu chứng nhức đầu hoặc khi nào khối u lan đến mũi lúc đó mới có triệu chứng ngạt mũi hay mất khứu giác.

Dần dần u xương lớn ra, niêm mạc bị căng, ngày càng mỏng đi và cuối cùng bị loét chảy máu. Đồng thời mũi bị tắc, có mủ thối. Dùng que châm thăm dò thấy có hiện tượng chạm xương.

Có những u xương to bằng quả cam hay nắm tay gây ra biến dạng xương mặt hoặc chèn ép các cơ quan lân cận với những hậu quả như lồi nhãn cầu, chảy nước mắt, mủ mắt, nhức đầu…

Nếu u xương khu trú ở sàn mũi chúng ta có thể nhầm với răng mọc ngầm.

1.2      Chẩn đoán
bệnh này phải dựa vào X quang. U xương thể hiện trên phim bằng hình ảnh một đám đen đặc, hình đều đặn, bờ rõ rệt nằm trong xoang trán hoặc xoang hàm, có khi có cả chi nhánh vào xoang sàng.

Không nên nhầm hình ảnh giả tạo gây ra do sự gồ ghề của mặt trong xoang với u xương. Hình ảnh giả tạo sẽ biến mất ở tư thế nghiêng, trái lại nếu là u xương thật nó vẫn tồn tại bất kỳ ở tư thế nào.

Nếu chụp theo hai tư thế: thẳng và nghiêng. Chụp cắt lớp rất cần thiết để định khu.

Phim sẽ giúp chúng ta loại ra những u cứng ở vùng mũi xoang như là u sụn ở hố mũi, u nang (kén) ở đầu xương cuốn giữa, u nang (kén) do răng ở xương hàm.

Trong trường hợp niêm mạc bị loét và thối, chúng ta có thể nghĩ đến ung thư hoặc giang mai nhưng sinh thiết và B.W. sẽ làm tan hết mối nghi ngờ. Nên nhớ rằng hình ảnh của lồi xương do giang mai (exostose syphilitique) cũng giống như u xương ỏ xoang trán.

1.3      Điều trị
phải dùng phẫu thuật cắt khối u. Nhưng u xương ở xoang trán và xoang sàng thường khó lấy vì nó hay dính vào nền sọ. người ta thường dùng phay (fraiie) điện để mài khối u.

2         U nhầy
U nhầy thường thấy ở xoang trán. U nhầy xoang bướm và xoang sàng tương đối hiếm.

Un nhầy là một loại u nang (kén) chứa đựng chất nhầy, nằm trong xoang và có khả năng làm mòn thanh xương để xuất ngoài ra dưới da.

Vấn đề bệnh sinh hiện nay chưa thống nhất , có người cho là vì tắc lỗ thông nên tiết nhầy bị ứ đọng và làm giãn xoang, có người cho đó là một bệnh bẩm sinh giống như là u nang do răng sinh.

2.1      Triệu chứng
Trong giai đoạn đầu không có triệu chứng gì rõ rệt. Bệnh nhân có cảm giác nặng đầu, đau nhẹ ở trán nhưng ít lưu ý đến. Xương chưa bị mòn nên da ở vùng trán có vẻ bình thường, nhưng nếu ấn vào đấy thấy đau hơn bên kia.

Khám mũi không thấy gì lạ.

Thường là tình cờ mà phát hiện ra bệnh, nhân dịp gửi ngời bệnh đi chụp X quang vì một lý do nào đó.

Trong giai đoạn thứ hai, xương bị mòn và mỏng dần. U nhầy làm phồng góc trong và trên của hố mắt.

Ngón tay ấn vào vùng tráncó cảm giác như là ấn quả bóng bàn vì vỏ xương rất mỏng.

Sau cùng lớp xương mỏng bị vỡ nốt và u nhầy xuất hiện dưới da, làm căng da góc trong và trên của hố mắt, làm phồng mi mắt, Nhãn cầu có thể bị dồn ra phía ngoài và phía dưới (u nhầy xoang trán) và bệnh nhân bị song thị.

Sờ vào khối u có cảm giác căng mọng, lấy ngón tay ấn thì u lõm chỗ này phồng chỗ kia giống như một cái túi cao su đựng đầy nước. Chung quanh khối u có bờ xương cứng. Bình thường khối u không đau trừ khi bị viêm nhiễm.

Chụp X quang: xoang trán bị mờ và nở rộng, vách ngăn bị đẩy dồn, thành trước bị xoá nhoà, U nhầy có thể to bằng quả trứng gà.

Khi chọc u sẽ hút ra được một chất nhầy đặc màu vàng.

2.2      Chẩn đoán
trong giai đoạn đầu có thể nhầm với  u xương, với viêm xoang mạn tính. Sang giai đoạn thứ hai có thể nhầm với viêm xoang trán xuất ngoại nhưng trong trường hợp này hiện tượng viêm nhiễm là triệu chứng nổi bật.

2.3      Điều trị
Phẫu thuật đục mở xoang, bóc tách toàn bộ vỏ của u nhầy. Nếu không bóc tích được phải nạo xoang và mở rộng đường dẫn lưu xuống mũi bằng cách khoét rỗng xoang sàng trước.

3         U năng răng sinh
(Kyste dentifère)

U nang (kén) răng là những u lành tính có đựng một cái răng phát sinh từ những mảnh biểu bì Malassez còn sót trong xương hàm. Mảnh biểu bì Malassez là những mảnh vụn, mảnh thừa của tổ chức biểu bì có nhiệm vụ tạo ra mầm răng. Những mầm biểu bì thừa này thường nằm yên trong xương hàm suốt đời. Nhưng ở một số người do tác động liên tục của chấn thương nhẹ, của viêm mạn tính và nhiều yếu tố nữa mà chúng ta chưa biết, đột nhiên những mầm này phát triển thành u nang.

U nang răng thường thấy ở hàm dưới hoặc hàm trên và có khi ảnh hưởng đến xoang hàm, nên bác sĩ tai mũi họng cũng cần biết để chẩn đoán. ở đây chúng ta chỉ nói đến u nang ở xương hàm trên.

U nang gồm có một cái vỏ bằng tổ chức xơ chứa đựng chất xền xệt, màu vàng nâu và một cái răng, thân răng cắm vào trong, chân thòi ra ngoài.

Chân răng này ngắn và sơ sài. Trong một số trường hợp đặc biệt người ta thấy trong kén có một mớ hạt ngà tượng trưng cho răng chưa hình thành.

3.1      Triệu chứng
Bệnh nhân thường là trẻ : dưới 30 tuổi. Bệnh bắt đầu lúc nào không ai biết vì nó không có triệu chứng và bệnh nhân chỉ làm phồng mặt ngoài của hố nanh.

Lúc đầu u nang còn năm sâu trong xương hàm và chỉ làm phồng mặt ngoài của hố nanh. Ngón tay đặt vào rãnh lợi má sờ thấy một khối u cứng như xương, không đâu, niêm mạc bình thường.

Lúc khám răng thấy thiếu một răng ở hàm trên, thường là răng nanh. Có khi thiếu răng mà chúng ta không để ý vì có một cái răng sữa tồn tại và thay thế vào chỗ răng thiếu.

Dần dần u nang ăn mòn xương, biến vách xương hố nanh thành một lớp xương mỏng. Ngón tay ấn vào hố nanh có cảm giác như là ấn vào quả bóng bàn. Mặt khác u nang cũng xâm nhập vào xương và đẩy dồn niêm mạc xoang về phía vách mũi xoang.

Sau cùng vỏ xương của u nang bị tiêu huỷ và vỏ u nang đến tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc rãnh lơị má.

Ngón tay sờ vào đấy có cảm giác như là một cái túi bằng cao su đựng nước.

Nhìn ngoài chúng ta thấy vùng hố nanh sưng to, rãnh mũi má bị đầy.

Suốt trong quá trình biến diễn, bệnh nhân không đau, không sốt.

3.2      Chẩn đoán
Chụp X quang cho chúng ta thấy hình ảnh của u nang và cái răng, thân cắm vào trong, chân thòi ra ngoài.

Dùng kim chọc sẽ hút ra được một chất xền xệt như sirô, có nhiều côles, têrin. Sau khi chọc phải mổ ngay vì u nang có thể bị viêm nhiễm gây đau đớn cho bệnh nhân.

3.3      Điều trị:
 rạch niêm mạc rãnh lợi tiền đình, bóc tách toàn bộ cái bọc u nang dùng kim nhổ cái răng mọc ngầm trong xương hàm, thống nhất xoang hàm và hố tạo ra bởi u nang. Sau đó mở đường dẫn lưu vào mũi và khâu rãnh lợi má.

4         U nang chân răng (Kyste radiculo-dentaire)
U nang (kén) chân răng xuất phát từ chân của một răng bị sâu. Loại u nang này thường gặp hơn u nang răng sinh (kyste dentifère).

Chân của răng sâu luôn luôn cắm vào trong u nang còn thần thì ở ngoài.

Vỏ bọc của u nang bằng tổ chức liên kết bám chặt vào các dây chằng răng. Mặt trong của bọc có một lớn liên bào dẹp che phủ. Nội dung của u nang là chất lỏng màu vàng chanh hoặc đục có nhiều côlesterin óng ánh.

4.1      Triệu chứng
ở đây cũng giống như trong u nang răng. Bệnh bắt đầu một cách âm thầm ở trong xương hàm gần sát chân răng và bệnh nhân chỉ để ý đến khi u nang đã tương đối to làm phồng hố nanh và rãnh lợi má.

Lúc đầu u cũng cứng, về sau xương bị mòn dần và u nang phát triển đến sát niêm mạc của rãnh lợi má hoặc da của hố nang. U trở nên mềm và lùng nhùng như một cái túi cao su đựng nước căng.

Trong bệnh u nang chân răng, các răng đều mọc đủ nhưng có răng bị sâu hoặc chết, đó là xuất phát điểm u nang.

Hơn mữa u nang chân răng có thể bị nhiễm trùng mưng mủ và vỡ ra thành lỗ dò ở niêm mạc hoặc da. Trong trường hợp này bệnh nhân có sốt và đau.

4.2      Chẩn đoán
Chụp X quang ở giai đoạn đầu: lúc u nang còn nhỏ, thấy có một bóng mờ tròn bằng hạt ngô ở chân răng. Người ta có thể nghĩ đến granulôm chân răng. Nhưng trong granulôm, bờ không rõ bằng trong u nang.

Về sau u đã to rồi, phim sẽ cho chúng ta thấy một cái u nang mờ đục to bằng đầu ngón tay, trong đó có một cái chân răng cắm vào. Chung quanh u nang xương bị mờ vì mất chất vôi.

4.3      Điều trị
bằng phẫu thuật giống như trong u nang răng đã nói trong bài trước. Sau đó phải nhỏ cái răng sâu.

Những loại u như u men răng (èpithélioma adamatin) u răng (odontome), u huỷ cốt bào (tumeur à myéloplaxes)… hầu như chỉ thấy ở hàm dưới và không gây tác hại đến xoang hàm nên chúng tôi không nói đến. Những bệnh đó thuộc về khoa Răng hàm mặt.



Read More

2/5/20

Bệnh học Gramulôm "ác tính" giữa mặt

Bệnh học Gramulôm "ác tính" giữa mặt

Granulôm "ác tính" có đặc điểm la loét và hoại tử ngày càng lan rộng ở vùng giữa mặt, không có xu hướng tự khỏi. Bệnh có thể la rộng xuống đường hô hấp trên và luôn luôn đưa đến tử vong. Tính từ "ác tính" ở đây có nghĩa là tiên lượng đen tối về mặt lâm sàng chứa thật ra không có hình ảnh nhân quái, nhân chia của tế bào trong loại u này.

Hiện nay chúng ta chưa biết rõ được bản chất của gramulôm ác tính. Người ta nghĩ rằng có lẽ là một số hội chứng thể hiện sự phản ứng của tổ chức trung mô (tissu méseenchymateux) đối với ự tấn cong của nhiều yếu tố như viêm nhiễm, dị ứng…trên một thể địa đặc biệt (bệnh tự miễn). Cũng có người cho là một loại ung thư đặc biệt mà tế bào ác tính đã bị phản ứng rất mạnh của tổ chức đệm chôn vùi.

1         Triệu chứng
Chúng tôi tác thể điển hình mà chúng ta thường gặp trên lâm sàng (STEWART).

1.1      Thời kỳ bắt đầu.
Bệnh bắt đầu một cách lặng lẽ. Thoạt tiên bệnh nhân ngạt mũi một bên, ngạt từng lúc. về sau ngạt liên tục.

Chảy mũi: lúc đầu loãng và nhờn, về sau có mủ tanh máu vàng hoặc nâu. Đôi khi bệnh nhân có chảy nước mắt bên mũi tắc.

Ít khi chảy máu cam.

Khám mũi: Trong mũi có nhiều tiết nhầy mủ đặc, màu xám thâm nhập thò ở tiền đình, niêm mạc mũi sưng dầy, chấm côcain - adrênalin không có lại. ở đầu cuốn dưới hoặc ở phần trước vách ngăn có vảy khô. Khi bóc vảy đi thấy niêm mạc bị loét, có nhiều hạt lổn nhổn.

Triệu chứng toàn thân không có gì lạ: không đau, không sốt, ăn được, ngủ được. Bệnh nhân vẫn làm việc và sinh hoạt như bình thường. ít khi chúng ta chẩn đoán đúng bệnh trong giai đoạn này, và thường hay nhầm với viêm xoang.

1.2      Thời kỳ thư hai:
Bệnh càng phát triển,các triệu chứng càng rõ rệt.

1.2.1       Triệu chứng cơ năng.
Bệnh nhân tắc mũi một bên, có khi cả hai bên.

Mủ thối chảy từ trong mũi ra.

Chảy máu cam trở lên thường xuyên.

1.2.2       Triệu chứng thực thể.
- Có thể là một khối u màu đỏ, loét sần sùi xuất phát từ chân vách găn hay ở đầu cuối dưới chiếm hết tiền đình.

- Có thể là loét thủng vách ngăn hoặc loét mất chất ở đầu cuốn dưới. Bờ vết loét dày cộm. Đáy vết loét có nhiều nụ sùi như hạt kê.

Cánh mũi sưng to, da căng bóng màu đó tím. Rãnh mũi má phồng lên, về sau da mũi cũng bị loét nốt, làm cho cánh mũi bị thủng.

1.2.3       Triệu chứng toàn thân:
Nhiệt độ bình thường, thỉnh thoảng nhiệt độ lên trong ít ngày rồi lại xuống.

Bệnh nhân bị thiếu máu do chảy máu: da vừa vàng, vừa xanh. Có hai đặc điểm đáng chú ý: thứ nhất là bệnh nhân không đau đớn (hoặc ít đau) tuy rằng bệnh tích đã khá trầm trọng; thư hai là người bệnh, ít muốn đi lại, chỉ thích nằm hay ngồi tại chỗ.

1.2.4       Phát triển của bệnh tích.
Đặc điểm của giai đoạn này là sự phát triển của quá trình hoại thư.

- Phát triển về phía xoang hàm.

Nếu bệnh tích bắt đầu ở cuốn dưới thì thành ngoài của hố mũi sẽ bị hoại tử. Quá trình hoại tử xâm nhập vào xoang: vùng mà và túi lệ sưng. Bệnh cảnh giống như viêm tấy ở mặt.

Xoang sàng bị hoại tử, xương giấy bị phá huỷ. Granulôm lan vào hố mắt.Màng tiếp hợp bị phù nề., hai mí mắt bị thâm nhiễm sưng to.

- Phát triển ra hàm ếch.

Trong thể bắt đầu ở vách ngăn, sần sùi bị thương tổn sớm. ở giữa hàm ếch xuất hiện một khối u to bằng ngón tay cái. Màu đỏ có vài mọng nước.

Các mọng nước vỡ và loét. Xương hàm ếch hoại tử và làm cho mồm ăn thông với mũi.

- Phát triển về phía tháp muĩ:  da ở đầu mũi và cánh mũi bị thâm nhiễm, sưng to, màu đỏ sẫm. Rãnh mũi má bị đầy và mờ. Những nốt vàng nâu xuất hiện và loét.

Loét có tính cách hoại thư và lan rộng, đáy có nhiều hạt. Loét tiêu huỷ tiểu trụ cách mũi và sụn tứ giác biến mũi thành một cái lỗ thối tha kinh tởm ở giưã mặt. Loét ăn lên phía tháp mũi, tiêu huỷ sụn, làm cho xương mũi biến thành xương chết và rụng đi. Hệ thộng lệ đạo bị hoại tử.Mi mắt và má sưng vù lên. Chung quanh lỗ loét cónhững túi mủ thối.

Môi trên cũng bị quá trình hoại thư làm thương tổn. Phần gần mũi của môi bị thủng mất chỉ còn lại bờ tự do của xương hàm trên bị bộc lộ.

- Phát triển xuống họng: Quá trình hoại thư lan về phía sau, thâm nhiễm hàm ếch, làm rách màn hầu, tiêu huỷ lưỡi gà. Granulôm phá huỷ trụ trước và trụ sau, lan xuống hạ họng. Tuy thương tổn rộng như vậy nhưng bệnh nhân vẫn ăn uống được và ít kêu đau.

Quá trình loét và hoại thư tiếp tục phát triển xuống thanh quản, tiêu huỷ sụn phễu, xâm nhập vào hạ thanh môn và khí quản làm cho bệnh nhân khó thở.

Tóm lại ở cuối giai đoạn thư hai, bệnh nhân có một bộ mặt đáng kinh sợ: ở giữa mặt, mũi mất đi và để lại một cái hố đen ngòm vừa thối vừa chảy máu, ngành lên của xương hàm hai bên bị bộ lộ. Hố loét này có một lớp vảy đen phủ lên. Dưới lớp vảy là những hạt kê sần sùi. Một bên chỉ có là một đoạn thừng vắt ngang không đủ che kinxs răng cửa. Má sưng to, mí mắt phù nề làm cho bệnh nhân không mở mắt rộng được. Giai đoạn thứ hai này kéo dài từ 2 tháng đến 1 năm.

1.3      Thời kỳ thứ ba.
Sang giai đoạn này thể trạng mắt đầu suy sụp. Bệnh nhân rất mỏi mệt: họ không muỗn ă uống và chỉ nằm liệt giường suốt ngày. Những động tác đơn giản như duỗi chân tay đối với họ cũng rất mệt nhọc.

Môi trên cũng bị hoại thư nốt. Hàm ếch bị hoàn toàn phá huỷ, mồm và mũi ăn thông với nhau biến thành một lỗ rỗng to.

Quá trình hoại tử ăn vào xương: ngành lên của xương hàm trên, xương lệ, xương chính của mũi đều lần lượt biến thành xương chết.

Nhiệt độ có thể lên cao vì bội nhiễm.

Bệnh nhân gầy tọp, xanh xao và rất thối tha. Hiện tương suy mòn ngày càng tăng. Bệnh nhân chết vì phế quản viêm hoặc chảy máu do vỡ động mạch.

Giai đoạn thư ba kéo dài trong vòng ba tháng. Về mặt lâm sàng chúng ta thấy trong Granulôm ác tính có ba điểm chú ý:

- Không có hạch.

- Không có di căn.

- Không có sự đề kháng của cơ thể.

2         Cách thể lâm sàng


2.1      Thể ngoài da:
Bệnh bắt đầu băng một hòn sần và loét ở da tiền đình hoặc da cánh mũi giống như cai hòn trong bệnh Besnier - Boeck Schaumann thuộc nhóm tăng võng (réticulose). Bệnh sẽ tiến triển về phía trên của mũi dọc theo rãnh mũi má.

Thể này điều trị sớm bằng quan tuyến X có kết quả tốt.

2.2      Thể hàm ếch -họng:
Bệnh bắt đầu bằng một khối u đều, nhẵn, đỏ ở giữa hàm ếch gần màn hầu. Khối u vỡ ra và vết loét to dần, làm thủng hàm ếch xâm nhập lên mũi, phá huỷ màn hầu, lan xuống các trụ amyđan.

Vòm và cửa mũi sau bị một khối u che lấp.Bệnh tích vẫn là hoại thư và loét hạt kê.

2.3      Thể xoang hàm:
Bệnh bắt đầu như viêm xoang hàm và được chẩn đoán là viêm xoang hàm mạn tính. Khi mổ ra, thấy có mủ thối và niêm mạc dày loét hạt kê.

Sau khi phẫu thuật bệnh chẳng những không thuyên giảm mà còn nặng hơn: hiện tượng hoại thư xuất hiện và tràn lan ra ngoài.

2.4      Thể họng:
Bệnh bắt đầu ở thành sau họng và màn hầu bằng những vết loét có giác mạc trắng bao phủ.

Sau đó hoại thư chiếm ưu thế, màn hầu vàcác trụ bị tiêu huỷ. Thanh quản bị thâm nhập, bệnh nhân khó thở.

2.5      Hội chứng Wegener.
Hội chứng này gồm có loét hạt kê ở mũi và họng kèm theo thương tổn ở thận và ở phổi.

Bệnh bắt đầu bằng viêm mũi, viêm xoang hàm mạn tính. Về sau có những vết loét xuất hiện trên niêm mạc mũi. Sụn và xương mũi bị bộc lộ và hoại tử.

Thương tổn không xâm nhập đến da nên cánh mũi và môi trên vẫn nguyên vẹn. Thương tổn ở họng khá rõ rệt: hàm ếch, màn hầu, các trụ, thành sau họng, nền lưỡi, hạ họng đều bị thâm nhiễm trở lên dày và đỏ bầm. Trên niêm mạc phù nề đỏ xuất hiện những vết loét nông và tròn. Những vết loét này ngày càng phát triển rộng ra ngoài và cuối cùng hợp lại thành một mảng có bựa trăng che phủ giống như giả mạc. Bệnh nhân chảy nhiều nước bọt và nuốt đau. Bệnh nhân ho và nhổ suốt ngày.

Bệnh tích có thể lan xuống thanh quản. tiếng nói trở lên khàn kèm theo ho và khó thở. Hai bên cổ có nhiều hạch viêm. Nhiệt độ thường trên 380, sốt kéo dài. Kháng sinh không có tác dụng.

Thương tổn ở phổi xuất hiện muộn. Bệnh nhân ho và khạc ra đờm. Chụp X quang phổi cho thấy nhiều loại hình ảnh khác nhau: hình nhân nhỏ rải rác khắp phổi, hình bóng mờ thâm nhiễm cả một thuỳ, hình to giống như hang lao…

Thương tổn ở thận kín đáo hơn, phải tìm kỹ mới thấy: viêm cầu thận với hồng cầu, trụ hạt và anbumin trong nước biển. Urê huyết khá cao nhưng huyết áp hầu như không tăng.

Thể trạng suy sụp nhiều do thương tổn ở thận, ở phổi.

Bệnh này không sớm thì muộn sẽ đưa đến chết trong vòng 6 tháng đến một năm.

Wegener xếp bệnh này vào loại viêm nút quanh động mạch (périartérite noueuse). Thương tổn vi thể là những granulôm nhỏ ở dọc theo thành mạch máu và làm tắc mạch máu.

Vị trí của hội chứng Wegener chưa được rõ rêt lắm. Có người cho đó là một thể lâm sàng của granulôm ác tính hay là bệnh tự miễn (maladie autoimmune).

3         Xét nghiệm
Cơ thể bệnh không tìm thấy tế bào ung thư mà chỉ thấy viêm mạn tính thông thường. cần phải làm sinh thiết nhiều lần để loại bỏ ung thư thật sự.

Vi trùng học: Trong granulôm ác tính người ta tìm thấy nhiều loại vi trùng nhưng toàn là những loại tạp trùng thông thường. Không thấy có loại vi trùng đặc hiệu.

Huyết học: ngoài hiện tượng thiếu máu cũng không cho chúng ta thêm một tia sáng nào về bệnh này.

4         Tiên lượng
Tiên lương của granulôm ác tính xấu. Hiện nay chúng ta chưa có phương pháp khống chế bệnh này. Kháng sinh, coctison, quang tuyến X chỉ có thể kìm hãm sự phát triển trong một thời gian chứ không giải quết được bệnh.

Trong hội chứng Wegener tiên lượng lại càng xấu hơn vì có những bệnh tích ở thận, ở phổi kèm theo.

5         Chẩn đoán
Granulôm ác tính không có triệu chứng đặc hiệu để chúng ta dựa vào đây mà chẩn đoán. Vị trí của vết loét, tính chất của vết loét, tiến triển của vết loét, sự chóng mệt mỏi của ngời bệnh, sự vắng mặt của hạch, tính không di căn của khối u, sự vô tác dụng cuả thuốc men và nhất là sự trả lời viêm mạn tính của phòng xét nghiệm tuy rằng đã làm sinh thiết năm bảy lần làm chi chúng ta nghĩ đến granulôm ác tính.

Người ta chẩn đoán granulôm ác tính bằng phương pháp loại dần.



Chẩn đoán phân loại

Cần loại các bệnh:

- Giang mai mũi: B.W, dương tính.

- Luput mũi: sinh thiết chi thấy hình ảnh lao da.

- Rinôsclêrôm: u sơ cứng làm hẹp mũi; không loét; không hoại thư.

- Viêm xoang mạn tính: rất dễ nhầm; trong giai đoạn đầu có khi phải mổ ra mới biết được.

- Ung thư mũi: sinh thiết có tế bào ung thư.

- Actinômycô (actinomycose): viêm do thấm actinomycose có thể gây ra khối u ở mũi. Khối u này có nhiều lỗ dò chảy nước đục lãn với hạt vàng. Khi soi hạt vàng bằng kinh hiểm vi sẽ thấy sợi nấm.









Hình 69. Grannulôm ác tính giữa mặt (Loét mũi và môi trên)

- Cam tẩu mã (noma) thường gặp ở trẻ em sau sởi. bệnh bắt đầu ở má rồi lan đến môi, đến mũi để lộ xương hàm và răng xương không bị phá uỷ.

- Bệnh tăng võng (réticulose): là một bệng của hệ thống liên võng nội mạc. Bệnh có thể bắt đầu bằng những hòn sần sùi và loét ở mũi và sau đó lan dần ra nhiều nơi ở thân thể, sinh thiết sẽ cho chúng ta thấy sự quá sản của tế bào histiocyte, monocyte, tế bào võng…và lưới reticulum.

6         Điều trị
Vì chưa biết rõ  nguyên nhân của bệnh nên điều trị không đi sâu vào căn nguyên được.

6.1      Kháng sinh
có tác dụng tốt đối với viêm bội nhiễm nhưng hầu như không công hiệu đối với granuloom ác tính.

Actinomyxin C mà người ta đã đặt nhiều hy vọng cũng chỉ có tác dụng tạm thời.

6.2      Điều trị bằng nội tiết.
Coctison và A.C.T.H. cho kết quả khá trong mấy tuần lễ đầu,  sau đó mất tác dụng dần dần. Lúc thôi dùng thuốc thì bệnh tiếp tục loét trở lại.

6.3      Phẫu thuật
cũng chỉ có tác dụng tạm thời. Sau một thời gian ổn định (6 tháng đến một năm) chỗ mổ sưng lên và loét trở lại.

6.4      Rõntgen liệu pháp:
Điều trị bằng quang tuyến X là phương pháp tốt nhất hiện nay. Nhưng kết quả không đều. Có người thì ổn định được trên ba năm, có người thì chỉ được chừng vài tháng tuy rằngcũng một thể lâm sàng với nhau.



Read More

1/5/20

Bệnh học Ung thư sàng - Hàm

Bệnh học Ung thư sàng - Hàm



Ung thư xuất phát từ xoang sàng và ung thư xuất phát từ xoang hàm sau một thời gian ngắn thương lan rộng làm mất ranh giới giữa 2 xoang và có những triệu chứng tương tự. Vì vậy chúng tôi sẽ trình bày hai bệnh ung thư này trong một bài.

Loại ung thư thường hay gặp là loại êpitêliôma (êpitêlioma dạng biểu bì, êpitêliôma hình trụ, êpitêliôma tuyến, êpitêliôma không biệt hoá…).

Còn saccôma thì hiếm hơn và chỉ thấy ở những bệnh nhân trẻ.

Ung thư sàng hàm cơ thể gặp ở các tuổi từ trẻ đến người già, nhưng tuổi để bị mắc ung thư là từ 40 đến 60. Đàn ông tương đối nhiều hơn đàn bà: tỷ lệ là 3 nam 1 nữ.

Ung thư sàng hàm ít có hạch và di căn muộn cho nên đứng về mặt lý thuyết mà nói thì không phải là một ung thư nguy hiểm lắm.

Người ta chia ung thư sàm ra làm 3 loại tuỳ theo xuất phát điểm của nó: ung thư hạ tầng, ung thư trung tầng và ung thư thượng tầng kiến trúc.

1         Ung thư hạ tầng kiến trúc
Là những ung thư xuất phát từ lợi răng, từ hàm ếch.Những ung thư này được bộ lộ ra ngoài nên dễ phát hiện sớm.

1.1      Triệu chứng:
Đầu tiên chứng ta thấy sưng ở chân răng số 6, số 7, loét lợi và chảy máu. Bệnh nhân bị đau răng và đi nhổ răng. Sau khi nhổ rồi, hố răng không niền lại và có những nụ sùi dễ chảy máu. Tiếp theo đo răng bên cạnh cũng bắt đầu lung lay. Chụp X quang thấy chúng quanh hố răngcó hiện tượng tiêu xương.

Trước tình trạng đó chúng ta làm sinh thiết ở chỗ xùi và phòng xét nghiệm trả lợi là ung thư.

Dần dần vết loét thâm nhiễm vào các tổ chức lân cận và hình thàh một khối u lan ra hàm ếch, xoang hàm,và rãnh lợi má.

Bờ lợi trở lên dày, loét hôi thối và chảy máu. Các răng kế cận rụng đi. Hạch dưới hàm và hạch cảnh có thể bị sưng vì nhiễm trùng.

1.2      Thể lâm sàng:
- Ung thư bắt đầu ở phía sau: xuất phát từ chân răng số 8 và xâm nhập hố chân bướm hàm gây ra khít hàm.

- Ung thư có thể bắt đầu ở vùng răng cưa rồi lan vào hàm ếch, vào sàn mũi, lành tính xuất phát từ niêm mạc hoặc xương của bờ lợi.

1.3       Tiên lượng:
Tiên lượng của ung thư hạ tầng kiến trúc không không xây lắm. Nếu ung thư khu trú ở bờ lợi thì cóthể điều trị khỏi được. Nhưng nếu ung thư đã vào hố chân bướm hàm thì tiê lượng xấu hơn hẳn.

2         Ung thư trung tầng kiến trúc
Ung thư trung tầng kiến trúc gồm có ung thư của niêm mạc và ung thư các vách xương của xoang hàm.

Xuất phát điểm ung thư thường là ở trong xoang hàm, nhưng đôi khi ung thư có thể từ dưới  hàm ếch lên hoặc từ các tế bào sàng xuống.

2.1      Triệu chứng
- Trong gai đoạn đầu chỉ có những triệu chứng đơn giản  như ngạt một bên mũi, chảy mũi nhầy đôi khi có lẫn ít máu. Thỉnh thoảng bệnh nhân kêu nhức đầu nhưng không nhiều lắm.Xem mũi thấy ở ngách giữa có tiết nhầy hoặc mủ, đôi khi có vài nụ xùi dễ chảy máu.























Hình 66. Ung thư xoang hàm trái
 Trên phim hình ảnh xoang hàm bị mờ. Trước những triệu chứng đó người ta nghĩ đến viêm xoang hàm mạn tính.

- Sang giai đoạn sau có thêm những triệu chứng làm cho chúng ta nghĩ đến ung thư.

Nhức ở chung quanh ổ mắt và má, xì mũi ra máu.

Da ở vùng dưới ổ mắt bị mất cảm giác.

Sờ vào hố nanh thấy phồng lên và có cảm giác đóng bánh (empâtement).

Soi thấy vách mũi xoang bị đẩy dồn vào trong.

ở ngách giữa có tổ chức xùi khả nghỉ, dễ chảy máu, Thể trạng tương đối tốt,Bệnh nhân sốt nhẹ do viêm nhiễm. Tốc độ lắng hồng cầu có thể tăng lên chút ít nhưng không có gì đặc hiệu. Hồng cầu có giảm, nhưng không nhiều.


2.2      Thể lâm sàng.
a) Thể trước: nếu điểm xuất phát của ung thư ở mặt trước xoang hàm nó sẽ làm phồng hố nanh và sưng má.

b) Thể sau: ung thư xuất phát từ thành sau của xoang và lan vào hố chân bướm hàm gây ra khít hàm rất sớm.

c) Thể trên: ung thứ xuất phát từ nóc xoang hàm, phá vỡ sàn ổ mắt, đầy dồn nhãn cầu lên trên và ra trước, gây phù nền mí mắt dưới. Ung thư loại này hay nan rộng vào xương gò má và xương sàng. Khi đã lan vào xương sàng rồi thì khó mà đoán được xuất phát điểm của ung thư. Ung thư của xoang sàng tràn qua xoàng hàm cũng có những triệu chứng tương tự.

d) Thể dưới: ung thư xuất phát từ đáy xoang hàm, phá vỡ xương hàm ếch xam nhập vào niêm mạc và tạo thành một khối u ở hàm ếch, lan dần đên chân răng, răng bi lung lay và rụng.

2.3      Chẩn đoán
Chẩn đoán dựa vào hai xét nghiệm:

a) Chụp X quang: phim theo tư thế Blôngđô cho thấy xoang hàm bị mờ đục và bờ ngoài bị phá vỡ; phim theo tư thế Hirtz cho thấy xoang sàng, xoang bướm bị ung thư xâm nhập hoặc vách sau của xoang hàm có bị vỡ. Chúng ta còn chụp thêm tư thế nghiêng để xem vách trước của xương gò má, ngành sau là vách trước của xoang hàm).

b) Sinh thiết: nếu ung thư đã xuất ngoại rồi thì làm sinh thiết rất dễ. Nếu khối u còn ở trong xoang hàm, thì phải đục xương ở hố nanh hoặc ở ngách dưới mới làm sinh thiết được.

Ung thư trung tầng kiến trúc cũng ít có hạch và di căn muộn. Tuy vậy tiên lượng xấu hơn ở hạ tầng kiến trúc.

Những ung thư đã lan rộng vào hố nanh, vào ổ mắt, vào hố chân bướm hàm, vào hai bên hàm ếch đều có tiên lượng rất xấu.



3         Ung thư thượng tầng kiến trúc
Ung thư thượng tầng kiến trúc thường xuất phát từ xoang sàng. Đặc biết là ở các tế bào sàng hàm. Cũng vì nó chiếm vị trí ranh giới giữa hai xoang hai xoang sàng và hàm nên người ta gọi nó là (ung thư ranh giới). Ung thư cũng có thể xuất  phát từ  góc t rong trên và của xoang hàm.

Nhưng dù sao trên thực tế trước một ung thư sàng hàm ở giai đoạn toàn phát, rất khó mà nói đâu là xuất phát điểm của bệnh.

Hầu hết các ung thư ở vùng này đều thuộc loại êpitêliôma trụ hoặc êpitêliôma tế bào lát hoặc êpitêliôma không biệt hoá. U tế bào trụ (cylindrome) cũng được coi như là một êpitêliôma đặc biết trong đó chất đệm bị đảo lộn và ít có khả năng di căn. Còn loạt saccôma thì ít gặp hơn. Loại lymphô êpitêliôma (sarcoépithélio - ma) càng ít thấy hơn nữa.
 

















Hình 67. Ung thư sàng hàm trái.




3.1      Triệu chứng:
Triệu chứng đầu tiên là ngạt mũi một bên ngày càng tăng. Đồng thời ở mũi chảy ra tiết nhầy trong hoặc màu hồng. Thỉnh thoảng có chảy máu cam.

Hiện tượng đau không có hoặc có rất ít (đau nhức chốc lát rồi hết).

- Sang giai đoạn toàn phát các triệu chứng trở lên  rõ rệt. Một bên mũi bị tắc liên tục, máu ở trong mũi thường chảy ra luôn, nước mũi trở lên hôi thối.

Triệu chứng đau trở lên quan trọng: bệnh nhân đau nửa đầu, đau chung quan ổ mắt, đau âm ỉ không ra cơn.

Soi mũi thấy có nhiều nụ đỏ sần xùi che lấp ngách giữa, hoặc những polyp đầy lỗ mũi. Nhìn vào mặt thấy khoé mắt bên trong bị sưng, rẽ mũi nở rộng về một bên. Nhãn cầu bệnh hơi lồi ra một chút. Bệnh nhân ăn được, ngủ được. Thể trạng còn tốt. Nhiệt độ bình tương hay hơi bình thường một chút. Hồng cầu cógiảm chút ít. Tốc độ lắng hồng cầu có thể tăng nhẹ.

- Giai đoạn thứ ba là thời kỳ ung thư lan  rộng. Khối u tràn vào ổ mắt, đẩy nhãn cầu về phía trước và phía ngoài. Lúc đầu nhãn cầu còn di động được, sau cùng bị bại liệt và mắt bị mù.

Ung thư lan rộng xuống đến xoang hàm gây ra hội chứng trung tầng kiến trúc mà chúng ta đã nói ở phần trước.

Ung thư có thể lan xuống hố mũi làm phồng cánh mũi làm mất rãnh mũi má đẩy vách ngăn vẹo sang một bên.

Trước những triệu chứng kể trên chúng ta cần làm hai xét nghiệm phi lâm sàng cơ bản: sinh thiết và chụp X quang.

Sinh thiết: trong giai đoạn  đầu sinh thiết tương đối khó,vì khối u ở trong sâu phải dùng kìm sinh thiết nhỏ chọc thủng xoang sàng qua đường mũi và cắt một mảnh niêm mạc trong xoang. Nếu sinh thiết âm tính thì phải làm lại nhiều lần,càng ngày đi càng sâu vào trong. và nếu cần có thể đục mở xoang sàng ra để làm sinh thiết.

Chụp X quang 3 tư thế: Blôngđô, Hirtz và nghiêng. Hình ảnh thường gặp là: mờ đục, hiện tượng tiêu xương và hiện tượng đẩy dồn làm cho xoang sàng nở rộng ra. Sự có mắt cùng một lúc của ba hình ảnh này trong các tư thế nổi nên tính chất ác tính của khối u.

3.2      Chẩn đoán phân loại
a) Trong giai đoạn đầu rất dễ nhầm với viêm xoang mạn tính, nhưng dần dần về sau chảy máu ngày càng tăng. Hiện tượng này rất khả nghi và buộc chúng ta phải làm sinh thiết.

b) Giang mai thời kỳ có ba thể làm cho chúng ta lạc hướng được. Nhưng trong giang mai III có xương chết và rất  thối. B.W dương tính.

c) Granulôm ác tính ở giữa mặt: trong bệnh này cánh  mũi hoặc màn hầu bị loét hoại tử và sinh thiết luôn luôn trả lợi là viêm mạn tính.

4         Điều trị
Điều trị chung cho cả ba loại có thể dùng thuốc, dùng quang tuyến X hay dùng phẫu thuật.

4.1      Điều trị bằng thuốc.
Những loại thuốc hãm bào (cytostatique) như Degrannol, Endoxan tiêm vào mạch máu có thể kìm hãm sẽ phát triển của saccôma trong một thời gian.







Hình 68. Ung thư xanh Aran

 (Degranol của Hungari, tiêm vào tĩnh mạch mỗi ngày 50mg, tiêm trong 12 ngày). Các thứ thuốc chống ung thư hiện nay chỉ có tác dụng kìm hãm ung thư trong một thời gian.

Điều trị bằng quang tuyến X.

Quang tuyến X hoặc coban 60 thường hay dùng để điều trị ung thư sàng hàm loại ít biệt hoá. Liều lượng thường dùng là 6000 r phân tán trong vòng 45 ngày.

4.2      Điều trị bằng phẫu thuật.
Nếu là ung thư hạ tầng kiến trúc thì phẫu thuật xén gờ lợi cho kết quả tốt.

Nếu là ung thư ở trung tầng kiến trúc thì phải cắt xén xương hàm trên.

Nếu là ung thư ở thượng tầng kiến trúc thì nên dùng phẫu thuật khoét rỗng xoang sàng theo kiểu murơ (Moure).

Nếu ung thư đã lan rộng có khi phải cắt toàn bộ hàm trên và khoét rỗng ổ mắt.

Phương pháp điều trị tốt nhất là phối hợp phẫu thuật và quang tuyến X. Sau khi mổ độ 15 ngày bệnh nhân sẽ được điều trị Rơnghen liệu pháp.



Read More

30/4/20

BỆNH HỌC: U ÁC TÍNH Ở TAI (Ung thư)

BỆNH HỌC: U ÁC TÍNH Ở TAI  (Ung thư)

1         Tai ngoài
Phần lớn ung thư của tai ngoài thuộc về loại ung thư biểu mô (êpitêliôma). Bệnh nhân là những người có tuổi. Bệnh bắt đầu bằng một hòn cứng, sần xùi dính vào sụn, dễ chảy máu, to bằng nốt ruồi ở vành tai (thường ở gờ vành hélix). Khối u tiến triển chậm trong giai đoạn đầu, lúc nó chưa loét. Về sau khi bắt đầu loét thì ung thư phát triển rất nhanh và biến thành một khối xùi lan khắp vành tai, xâm nhập vào ống tai. Hạch chung quanh tai hoặc ở dãy cảnh bị thôn tính. Cuối cùng ung thư sẽ xâm nhập vào tai giữa (xem ung thư tai giữa). Xem Thêm: https://utai. com/hay

Sinh thiết cho biết rằng ung thư  thuộc về loại êpitêliôma tế bào gai (épithélioma spino-cellulaire) hoặc tế bào đáy (épithélioma baso-cellulaire). Loại épithélioma tế bào đáy biễn diễn chậm và ít di căn vào hạch.

Sacôma rất hiếm. Loại này khu trú ở dái tai và ít có hạch.

Ung thư xuất phát từ ống tai ngoài rất ít thấy. Bệnh bắt đầu bằng nụ xùi che lấp ống ta và dễ chảy máu, làm cho thầy thuốc nhầm với polyp tai. Sinh thiết sẽ phát hiện ra bản chất ác tính của u.

Tiên lượng không được tốt lắm, nhấtl à khi đã có di căn vào hạch.

Phẫu thuật cắt xen đơn thuần thường sẽ đưa đến tài phát. Phẫu thuật kết hợp với quang tuyến X với coban liệu pháp cho kết quả khá hơn một chút. Radi có tác dụng rõ rệt, nhưng hay gây ra hoại tử, mục xương.

2         Tai giữa
Ở tai giữa có hai loại u ác tính: épithélioma (ung thư biểu mô) gặp ở người có tuổi và saccôma (ung thư  tổ chức liên kết) ở người trẻ.

2.1      Épithélioma (cacxinôma)
Niêm mạc của tai giữa thuộc loại tế bào trụ, nhưng ung thư  tai giữa lại thuộc tế bào lát. Người ta giải thích hiện tượng này như sau: ung thư  phát triển trên niêm mạc bị thoái hóa dị sản (tế bào trụ biến thành tế bào lát) do viêm tai mạn tính. Trong trường hợp bệnh nhân không có tiền sử viêm tai ung thư  có thể xuất phát từ biểu mô lát của mặt ngoài màng nhĩ và xâm nhập vào thùng nhĩ sau khi làm thủng màng nhĩ.

2.1.1      Lâm sàng
Trong đa số trường hợp, bệnh xuất hiện ở một người già, bị chảy tai từ lâu. Gân đây mủ chảy tăng lên và đôi khi có lẫn máu.

Triệu chứng đau xuất hiện từng bước. Lúc đầu đau nhói nhẹ từng cơn, từng đợt. Về sau đau tăng dần, trở nên dữ dội liên tục, làm cho bệnh nhất mất ngủ, Bệnh nhân đâu trong sâu, đau lan khắp đầu. Các thuốc giảm đau không làm bớt được đau.

Triệu chứng liệt mặt xuất hiện sau triệu chứng đau: liệt toàn bộ, kiểu ngoại biên.

Khám tai: trong ống tai có mủ.

Sau khi chùi sạch mủ, chúng ta thấy màng nhĩ bị phá hủy, đáy lỗ thủng nhĩ có nhiều nụ xùi, chắc, dễ chảy máu, tái phát rất nhanh sau khi cắt. Nụ xùi có thể che lấp màng nhĩ. ở sau tai hoặc sau góc hàm bắt đầu có hạch. Hạch cứng nhưng còn di động ít nhiều.

Về sau ung thư  lan ra sào bào, xâm nhập xương chũm làm cho xương này phồng lên, da bị căng đỏ. Cuối cùng da vỡ, ung thư  xuất ngoại và hình thành một khối xùi giống như súp lơ sau tai. Đồng thời nụ xùi cũng phát triển theo ống tai ngoài ra đến cửa tai.

Mủ trở nên thối khẳn và thường có lẫn máu.

Hạch cổ sưng to và bị cố định, dính vào da. X quang giúp chúng ta đánh giá sự lan rộng của u vào xương chứ không giúp chúng ta chẩn đoán bản chất của khối u.

Biến chứng thông thường là: viêm mê nhĩ hoặc viêm não hoặc liệt các dây thần kinh số IX, số X, số XII.

Bệnh nhân sẽ chết vì viêm màng não hoặc chảy máu dữ dội do vỡ dộng mạch cảnh trong.

2.1.2      Chẩn đoán:
Chẩn đoán ung thư  tai giữa trong giai đoạn đầu rất khó: chúng ta hay nhầm với viêm tai giữ mạn tính. Nhưng khi có triệu chứng đau, liệt mặt thì chúng ta phải cảnh giác và làm sinh thiết. Sinh thiết đóng vai trò quyết định trong chẩn đoán. Nhưng khó thực hiện trong giai đoạn đầu vì kìm bấm hay cắt nhầm những nụ viêm thông thường.

Có khi chúng ta chẩn đoán nhầm là viêm tai xương chũm và chúng ta mổ. Trên bàn mổ chúng ta thây xương chũm đầy nụ xùi khả nghi và gửi bệnh phẩm đi xét nghiệm vi thể. Giải phẫu bệnh học trả lời là: ung thư  liên bài gai.

Chúng ta có thể nhầm ung thư  tai giữa với u cuộn cảnh (umeur du glomusjulaire). Loại u này chảy máu rất nhiều, nhưng không đau mấy. Chẩn đoán dựa vào sinh thiết.

2.1.3      Điều trị:
Phẫu thuật: khoét rỗng đá chũm mở rộng kèm theo cắt bỏ ống tai ngoài và vành tai hoặc phẫu thuật cắt bỏ một phần của xương thái dương (xương chũm, xương nhĩ, khớp thái dương – hàm, hai phần ba ngoài của xương đá cả dây thần kinh mặt và mê nhĩ).

Quang tuyến: sau khi phẫu thuật bệnh nhân sẽ được áp quang tuyến X hoặc coban.

Đối với hạch, chúng ta có thể điều trị bằng phẫu thuật hoặc quang tuyến.

Kết quả: 17% sống quá năm năm (báo cáo của Leroux-Robert trước Hội nghị tai mũi họng Pháp 1957).

2.2      Saccôma
Chúng ta gặp Saccôma tai ở tuổi thiếu niên, hoặc thiếu nhi. So sánh với cacxinoma chiếm tỷ lệ thấp hơn.

Bệnh bắt đầu với ba triệu chứng: điếc kiểu tai giữa, chảy tai và đau tai nhẹ.

X quang cho thấy xương chũm bị phá hủy và làm cho chúng ta nghĩ đến viêm tai xương chũm cấp tính nhưng kháng sinh không có tác dụng. Bệnh tiếp tục phát triển: chảy máu tai, liệt mặt, sưng sau tai hoặc ở vùng thái dương.

Soi tai cho chúng ta thấy trong ống tai có khối xùi giống như pôlýp, chắc, ít chảy máu.

Không có hạch ở cổ hoặc chung quanh tai.

Về sau Saccôma xâm nhập vào xương chũm làm cho da sau tai căng phồng, vành tai bị đẩy dồn về phía trước, rãnh sau tai bị lấp đầy. Da có thể bị loét và ung thư  sẽ xuất ngoại.

Saccôma có thể phát triển về phía xương đá, gây ra những triệu chứng mê nhĩ như ù tai, điếc tai và chóng mặt. Dây thần kinh số VII và số VI thường hay bị liệt. Khi khối u phát triển to nó có thể gây ra liệt các dây thần kinh số IX, số X, số XI, số XII và tăng áp lực nội sọ. Bệnh diễn biến và đưa đến tử vong trong vòng sáu tháng hoặc một năm.

Khi khám bệnh chúng ta dễ nhầm, nhất là trong giai đoạn đầu, với viêm tai xương chũm cấp tính, hoặc granulôm ái toan ở xương chũm (xem u lành tính ở tai). Nhưng sự biến diễn nhanh chóng của bệnh, sự có mặt của những nụ xùi dễ tái phát ở tai, làm cho chúng ta nghi ngờ. Sinh thiết mang lại cho chúng ta  chẩn đoán chính xác.

Tiên lượng của bệnh này xấu hơn tiên lượng của êpitêliôma tai: bệnh biến diễn nhanh hơn và có xu hướng lan rộng hơn mặc dù có điều trị.

Điều trị trong giai đoạn đầu dựa vào phẫu thuật khoét rỗng đá chũm kèm theo tia quang tuyến, côban. Saccôma xơ ít nhạu cảm với tia quang tuyến. Khi ung thư  đã lan rộng, chúng ta không nên dùng tia quang tuyến (gây ra cơn đau dữ dội) mà chỉ nên dùng thuốc giảm đau một cách tạm bợ.

Read More

29/4/20

BỆNH HỌC: U LÀNH TÍNH Ở TAI

BỆNH HỌC: U LÀNH TÍNH Ở TAI

 Chúng ta có thể gặp ở tai những u lành tính thong th­ường và những u lành tính riêng biệt của tai.Sau đây chúng tôi chỉ kể sơ quan những u  thông th­ường và sẽ nhấn mạnh những u có triệu chứng riêng biệt ở tai. Xem Thêm: https://utai. com/hay

1         TAI NGOÀI
ở tai ngoài chúng ta thấy những u thông th­ường nh­ u máu,  u xơ,  u sụn, u mạch máu, u nang...

Những u này  th­ường khu trú  ở vành tai , ở gờ bình (tragus), ít khi u chiếm  ống tai ngoài.  U lành tính  của tai ngoài không có triệu chứng đặt biệt  gì khác hơn những triệu chứng thông th­ường, lệ thuộc vào bản chất của từng loại.Nếu khối u quá to  nó có thể bịt cửa tai lại.

Riêng u máu ở vành tai  (othématome) chúng ta đã trình bày ở  bài bệnh tai ngoài. Đây là bệnh t­ương đói phổ biến.

Nói chung chúng ta giải quyết  những u ở tai ngoài  bằng phẫu thuật. Đối với u  mạch máu (u mao quản)  chúng ta có thể dùng đông điện hoặc radium.

2         TAI GIỮA
2.1      cholestêatôma.
 chúng tôi không nhắc lại cholestêatôma thứ phát trong viên tai x­ương chũm mà  chúng tôi đã nói rồi ( xem bài viêm tai giữa mạn tính)  chúng tôi chủ nói đến cholestêatôma nguyên phát  xuất hiện  tr­ước khi có triệu chứng chảy tai.  Những u này biến diễn và tấchị cũng giống cholestêatôma thông th­ường.

Có hai loại cholestêatôma nguyên phát.

2.1.1      cholestêatôma bẩm sinh.
 U bắt đầu nguồn ở những mảnh biểu bì còn sót lại  và bị chồn vùi trong  x­ương từ thời kỳ bào thai. Chúng ta có thể gặp cholestêatôma bẩm sinh ở bất kỳ chỗ nào của x­ương thái d­ương: Vảy (trai) thái d­ương ,mỏn tiếp, x­ương chũm. Bệnh nhân không chảy tai. Chúng ta phát hiện bằng X quang.

2.1.2      cholestêatôma nguyên nhân thật sự.
 cholestêatôma này  bắt đầu  khi bệnh nhân còn  là hài nhi. ở tuổi này màng Srapnen rất dễ vỡ  hoặc lõm  vào trong th­ượng nhĩ, tạo ra một cái túi biểu bì ở trong hốc kín. Túinày  mỗi ngày một lớn dần  và ăn mòn x­ương.

cholestêatôma  nguyên phát thuộc về cholestêatôma khô tức là  không ăn thông với bên ngoài hoặc thông với bên ngoài  bằng cái lõ thật nhỏ do đó  ítkhi thối nh­ cholestêatôma ­ớt.  Nhưng về sau khi cholestêatôma nguyên phát đã ăn thông  với hòm nhĩ, gây ra  chảy mủ tai, nó biến thành cholestêa - tôma ­ớt và giống hệt nh­ cholestêatôma thứ phát của viêm tai giữa mạn tính. Về mặt cấu trúc cholestêatôma gồm có  hai phần:

- Cái khuôn bọc  gồm có  những mảnh biểu bù mà xà cừ xếp thành nhiều lớp. ở lớp ngoài  cùng th­ường có dính ít tổ chức liên kết.

- Các nhân mềm, nhão, giống nh­ bã đậu, gồm chó những tế bào biểu bì nát rũa, chứa nhiều chất cholesterin.

Cholesêstôma ngày cang to dần và ăn món x­ương, bộc lộ màng não, tĩnh mạnh  bên, dây thần kinh mặt.... Tiên l­ượng của loại này cũng xấu nh­ tiên l­ượng của Cholesêstôma ­ớt.

Điều trị: Cholesêstôma yêu cầu phải lấy hết khuôn bọc. Nên để sót khuôn bọc bệnh sẽ tái phát.

2.2      Điều Han-sule -Cristêa (Hand - Schuller - Christian).
 Bệnh này th­ường thấy ở trẻ em và thể hiện bằng ba triệu chứng chinh; ở lồi mắt ở tháo đ­ường và khuyết x­ương sọ. Bệnh tích x­ương là những u tròn nhẵn, mềm ở các x­ương sọ . X quang cho thấy rằng x­ương sọ bị khoét lỗ ở nơi có u. Ngoài những triệu chứng chính chúng ta thấy những triệu chứng phụ nh­ lùn, béo phì, teo bộ phận sinh dục .... Đây là một của hệ thống võng (réliculose) trong đó sự chuyển hóa của chất mỡ bị rối loạn xanthomtose).

Bệnh Hand - Schuller - Christian có thể khu trú ở ống tai ngoài hoặc ở x­ương chũm . ở ống tai ngoài bệnh thể hiện bằng rỉ n­ước ngoài da giống nh­ eczêma hoặc loét xúi da và bộc lộ x­ương. ở x­ương chũm bệnh thể hiện bằng u mềm ở sau tai giống nh­ viêm x­ương chũm, nhưng không có tính chất viêm (không nóng, không đau) về sau tai sẽ bị nhiễm trùng và lúc đó mới có hiện t­ượng viêm . Khám tai chúng ta th­ường thấy những nụ hạt che kín màng nhĩ.

Chẩn đoán bệnh dựa vào X quang và sinh thiết. X quang cho thấy hình ảnh những lỗ khuyết trên các x­ương sọ. Kính hiển vi cho thấy những tế bào đặc hiệu: Tế bào bọt cellule spumeuse hay foam-cell).

Trong điều trị chúng ta nên kết hợp phẫu thuật nạo khoét khối u với quang tuyến Renghen.

2.3      Granulom ái toan (granulome écsinophile).
 Chúng ta gặp bệnh này ở tuổi thiếu niên và thanh niên.

Đây là một bệnh của hệ thống võng (réticulose) và có thể khu trú ở các x­ương của thân thể. Trong bài này chúng tôi chỉ nói đến granulôm ái toan ở x­ương chũm.

Bệnh biến diễn giống nh­ một bệnh cảnh viêm tai x­ương chũm cấp tính.

Chảy tai, đau tai, nụ xúi ở ống tai ngoài,s­ng sau tai thành u. Vị trí của u có thể ở tai x­ương chũm hoặc ở về phía sau trên x­ương chũm. Kháng sinh không làm giảm đ­ược khối u, nó càng ngày càng to. X quang cho thấy rằng ở x­ương chũm có một lỗ khuyết tròn bằng ngón tay, bờ rõ rệt, x­ương chung quanh không mất vôi.

Trên bàn mổ chúng ta thấy trong x­ương chũm có một cái hang chứa đầy tổ chức xúi màn vàng nâu.

Xét nghiệm vi thể trả lời: Bạch cầu da nhân ái toan chiếm ­u thế, lẫn với các tế bào viêm thông th­ường nh­m tổ chức bào, thực bào, tế bào lymphô, t­ương báo...

Tiên l­ượng tốt: Bệnh sẽ khỏi sau một thời gian (không mổ cũng khỏi). Một đôi khi bệnh tái phát hoặc xuất hiện ở các chi gây ra gãy x­ương.

Điều trị t­ương đối dễ: Nếu tai không bị viêm nên điều trị bằng quang tuyến Renghen. Nếu bị viêm thi nên mổ (đục x­ương chũm hoặc khoét rỗng đá chũm) kèm theo kháng sinh.

Bệnh granulôm ái toan cũng nằm trong nhóm bệnh tổ chức võng và rất gần với bệnh Sule-Cristian.

3         TAI TRONG
U lành tính quan trọng nhất của tai trong là u dây thần kinh thính giác và u cuốn cảnh. Chúng tôi sẽ nói rõ về hai laọi u này trong bài sau đây.

4         U dây thần kinh thính giác
U dây thần kinh số VIII chiếm đa số tuyệt đối trong các loại u ở góc cầu tiểu não. Đây là một bệnh thuộc khoa thần kinh nhưng nó có liên quan rất nhiều đến tai mũi họng(phân môn Tai - Thần kinh).

4.1      ĐẠI C­ƯƠNG
4.1.1      Cấu trúc.
U xuất từ cái bao Svan (SchWann) của dây thần kinh và đ­ược màng nện phủ lên mỗi lớp vỏ xốp nh­ dạ. Trong lớp vỏ này th­ường hay có những kén nhỏ.

Về mặt tế bào học, đây là một u lành tinh, nhưng nó hay dính và chèn ép vào tổ chức thần kinh và mạnh máu gây ra nhiều khó khăn trong phẫu thuật.

4.1.2      Vị trí.
U th­ường xuất phát ở ống tai trong và tiến về phía hố cầu tiểu não tức là khoảng cách ở giữa mặt sau x­ương đá và hành não, tiểu não, cầu não. Do đó khối u sẽ làm giãn ống tai trong, kéo dài dây thần kinh số V, số VII chèn ép hành não,cầu não, tiểu não,làm tắc đ­ường l­u thông của n­ước não tủy trong não thất IV và cống Sylvius.

4.1.3      Khối l­ượng.
Khối lơựng không to lắm, bằng đầu ngón tay hoặc quả trứng gà . Nhưng vì nó nằm trong hố sau của sọ, một hố vừa nhỏ, vừa bị bao bọc x­ương cứng không co giãn, nên nó gây nhiều rối loạn rất nghiêm trọng.

4.2      TRIỆU CHỨNG
Biến diễn lâm sàng của bệnh đ­ược phân ra làm bốn giai đoạn (có tác giả chia ra làm ba giai đoạn hoặc năm giai đoạn), mỗi giai đoạn có triệu chứng riêng biệt và có tiên l­ượng khác nhau.

4.2.1      Giai đoạn đầu, hay giai đoạn ốc tai tiền đình.
Bệnh tích còn khu trú ở ốc tai trong, các triệu chứng chính xoay quanh chức năng nghe và chức năng thăng bằng của tai.

Bệnh nhân th­ường vào khoảng, 30 đến 40 tuổi, đến khám bệnh  vì điếc, ù tai, chóng mặt. Màng nhĩ bình th­ường. Điếc một bên tai, ngày càng tăng, điếc kiểu tai trong tức là Svabach ngắn, rinơ  d­ương tính, vơbe thiên về tai lành. Thính lực đồ cũng khẳng định tính chất tiếp nhận của điếc. Hiện t­ượng hồi thinh (recrutment) th­ường vắng mặt trong đa số tr­ường hợp. Sau một thời gian, từ hai đến bốn năm, điếc có thể trở nên hoàn toàn.

ù tai không th­ường xuyên . Trong tr­ường hợp có ù tai, chính triệu chứng này làm cho bệnh nhân khó chịu nhiều hơn là triệu chứng điếc.

            Chóng mạt không nhiều, cơn không rõ rệt.

Bệnh nhân có cảm giác mất thăng bằng kéo dài. Khi nào lắc đầu mạnh hoặc trở mình nhanh, có cảm giác quay cuồng trong chốc lát.

Mới nhìn sơ quan chúng ta nghĩ đến hội chững ngoại biên trong mê nhĩ kiểu Mênie nhưng khi nghiên cứu kỹ thấy có vài nét không điển hình ; bệnh nhân kêu nhức đầu liên tục ở vùng chẩm về bên điếc, cơ sau gáy căng và đau. Khám tiền đình thấy có giảm kích thích . Chụp X quang x­ương đã theo t­ thế Stenvera và Tônơ Vanhxăng cho thấy ống tai trong bắt đầu giãn. Nghiệm pháp suy thoái TDT của Carhart d­ương tính mạnh, trên 20db (Relapse II) . Đ­ường, thính lực đồ tự động Bêkêháy thuộc kiểu III hoặc IV. Nghiệm phap SISI cho tỷ số d­ới 20% (xem hội chứng ngoại biên sau mê nhĩ).

Nh­ vậy là bệnh nhân có hội chứng tiền đình rễ chứ không phải hội chứng tiền đình ngoại biên trong mê nhĩ.

Giai đoạn ốc tai tiền đình kéo dài trong vài năm và trên thực tế ít khi bệnh nhân đến khám bệnh trong giai đoạn này, giai đoạn mà phẫu thuật cho kết quả rất tốt.

4.2.2      Giai đoạn thứ hai hay giai đoạn thần kinh.
Bệnh tích lan ra ngoài ống tai trong và tác hại đến hành não, đến cần não, làm tăng những triệu chứng mê nhĩ đã có và gây thêm những triệu chứng thần kinh khác.

Điếc: Điếc hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn , điếc kiểu tai trong, không có hiện t­ượng hồi thinh.

ù tai: Có giảm so với giai đoạn đầu.

Chóng mặt vẫn nh­ tr­ước, nhưng hiện t­ượng mất thăng bằng tăng lên.

Nhức đầu tăng nhiều và có thêm những cơn  đau dữ dội.

4.2.2.1     TRIỆU CHỨNG TIỀN ĐÌNH KIỂU TRUNG ­ƯƠNG.
Động mắt tự phát đập về bên bệnh , đôi khi có động mắt đứng. Nghiệm pháp ngón tay chỉ cho thất rằng tay bên bệnh bị lệch về phía bệnh, còn tay bên lành đứng yên.

Các nghiệm pháp Rombe (ngả về bên bệnh), Babínki - Ven (đi hình ngôi sao)và Radơmaker - Gacxin (mất phản xạ thích nghi) đều nói lên tính chất trung ­ương của th­ương tổn.

Nghiệm pháo n­ơc lạnh cho thấy rằng:

- Bên bệnh mê nhĩ không trả lời hoặc trả lời rất yếu.

- Bên đối diện: Có động mắt nằm nhưng thiếu động mắt quay (ở t­ thế Brunigs III).

- Nghiệm pháp ngón tay chỉ: Khi bơm n­ước lanh tay bên lành bị lệch còn ngón tay bên không di động.

- Thiếu cảm giác chóng mặt.

4.2.2.2     Triệu chứng các giây thần kinh sọ kế cận
- Dây thàn kinh số V:  Mất phản xạ giác mạc, giảm cảm giác ngoài da ở nửa bên mặt bệnh. Về sau có hiện t­ượng liệt cơ nhai (không cắn chặt một bên hoặc không đ­a hàm d­ới qua lại đ­ược).

- Dây thần kinh số VII: Liệt  nhẹ nửa bên mặt hoặc co thắt cơ mặt ở bên bệnh.

- Dây VI: Bệnh nhân bị lác mắt vào trong bên bệnh. Hiện tượng này xuất hiện muốn và nói lên rằng áp lực nội sọ đã tăng.

4.2.2.3     TRIỆU CHỨNG TIÊU NÃO
Những triệu chứng tiểu não ở cùng một bên với khối u nói lên thiểu năng của tiểu não; quá tầm , mất tr­ương lực cơ (nghiệm pháp Foix và Thévenard), mất liên động (động tác múa rối) , mất đồng vận (xem cách khám tiền đình).

Những hiện t­ượng bệnh lý này làm cho bệnh  nhân mất thăng bằng, đứng không vững, đi nh­ ng­ời, đi nh­ ng­ời say r­ợu, chân này đá vào chân kia.

4.2.2.4     TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG
Phim X quang cho thấy ống tai trong nở rộng, có khi bở trên hoặc mồm x­ương đã bắt đầu bị phá hủy (t­ thế Stenvers và t­ thế x­ương đá trong ở mắt).

Trong n­ước não tủy có hiện t­ượng phân ly giữa anbumin và tế bào (Tăng anbumin do chèn ép ). Chọc do tủy sống cỏ thể gây ra biện chứng tụt kẹt bệnh nhân tiểu não , vì vậy chỉ nên lấy độ ba mililit n­ước não tủy mà thôi.

Giai đoạn thứ hai này là giai đoạn tàn phát, các triệu chứng có mặt đầy đủ. Phẫu thuật trong giai đoạn này còn cho kết quả tốt.

4.2.3      Giai đoạn thứ ba hay giai đoạn tăng áp lực nội sọ.
Khối u trở nên to, làm nghẽn sự l­u thông của n­ước não tủy, gây ra tăng áp lực nội sọ.

Nhức đầu trở thành liên tục và thỉnh thoảng có cơn bốc phát dữ dội. Tinh thần trí trệ, lĩnh hội chậm chạp , mạch cũng chậm. Bệnh nhân hay nôn vọt một cách dễ dàng . Gai mắt bị nề và thị lực giảm sút. Dây thần kinh số VI bị liệt (lắc mắt về bên trong).

Trong giai đoạn này tuyệt đối không nên chọc dò tủy sống , mà phải khoan sọ và chọc não thất để thoát bởi n­ước não tủy, làm cho bệnh nhân dễ chịu trong một thời gian.

Phẫu thuật cắt bỏ khối u tiến hành trong giai đoạn này cho thấy kết quả không tốt bằng trong những giai đoạn tr­ước vì u có thể dính vào các tổ chức thần kinh kế cận, nhất là vào thân não.

4.2.4      Giai đoạn thứ t­ hay giai đoạn cuối cùng.
Bệnh nhân không đi lại đ­ược, nằm liệt gi­ường, nửa mê nửa tỉnh.

Bệnh nhân vừa bị điếc (th­ương tổn dây số VIII) vừa bị mù (th­ương tổn dây số II) vừa nói khó,nuốt khó (th­ương tổn dây số IX,số X, số XI,số XII).

Ng­ời bệnh sẽ chết vì hôn mê tăng dần hoặc bị tụt kẹt hạnh nhân tiểu não.

Phẫu thuật không cong tác dụng trong giai đoạn này.

4.3      CHẨN ĐOÁN
Trong thời kỳ đầu: Khi thấy một bệnh nhân bị điếc tai rong ở một bên kèm theo ù tai, chóng mặt và giảm khả năng bị kích thích ở mê nhĩ, chúng ta phải nghĩ đến u dây thần kinh số VIII và tìm thêm hai triệu chứng chính là mất phản xạ giác mạc và giãn ống tai trong.

Trong giai đoạn đầu để khẳng định khối u ng­ời ta chụp điện cắt lớp ống tai trong (méato - eysternographie) có bơm thuốc cản quang vào sống, thuốc sẽ ngấm dần vào cùng đồ màng não của ống tai trong. Trong tr­ường hợp có u thì thuốc không ngấm vào ống tai trong.

Ph­ương pháp hiện đại nhất để phát hiện khối u là chụp cắt lớp có tính đậm độ bằng máy tính điện tử (tomodensito métric EMI - Scanner).

Về sau khi các triệu chứng thần kinh xuất hiện phong phú chúng ta phải loại ra các bệnh ở thân não , ở tiểu não hoặc phía sau.

a. Loại ra những th­ương tổn ở hành não - cầu não nh­ chuyển hóa, u củ.... Những bệnh này có thể làm th­ương tổn đến dây số VI, số VII, số VIII. Trong những tr­ường hợp này bệnh nhân có thêm liệt các chi bên đối diện và mất cảm giác ở nửa bên ng­ời cũng phía với th­ương tổn hành não - cầu não. Bệnh nhân không có hiện t­ượng tăng áp lực nội sọ.

b, Loại ra u củ củ não sinh t­ sau. Trong bệnh này ng­ời ốm bị điếc nhưng các nghiệm pháp tiền đình đều bình th­ường hoặc quá kích thích chứ không hề bị suy giảm.

c. Lọai ra u của tiểu não: ở đây có thể có điếc tai trong và mất phản xạ tiền đình( tiền đình không trả lời khi bị khích thích) nhưng điếc xuất hiện sau trong triệu chứng tiểu não( quá tầm,mất tr­ương lực cơ , mất đồng vận , mất liên động mất thăng bằng).

d. Loại ra các bệnh ở hố sau nh­:

- Viêm màng não, giang mai mạn tính ở nền dọ; BW d­ương tính, liệt các dây thần kinh sọ cả hai bên....

- U ở nền sọ nh­ ung th­ võm  mũi họng lan về phía lỗ rách tr­ước đây gây ra liệt các dây thần kinh sô II,III,IV,V,VI.... (hội chứng Jaccod) hoặc về phía lỗ rách sau gây liệt các dây thần kinh số IX,X,XI (hội chứng Vernet), còn dây thần kinh số VIII thì bị th­ương tổn sau các dây thần kinh kể trên.

- Viêm màng nhện thể dính hoặc thể kén sau viêm tai x­ương chũm. Chúng ta dựa vào triệu chứng X quang đẻ phân loại: Trong viêm màng nhện ống tai trong không bị giãn.

- Phinh động mạch thân nền (anévresme du tronc basilaire). Chụp động mạch cột sông cổ sẽ cho chúng ta thấy giãn động mạch thân nền.

4.4      ĐIỀU TRỊ
U dây thần kinh sô VIII phải đ­ược điều trị bằng phẫu thuật và thuộc về phạm vi của phẫu thuật thần kinh. Đây là một u lành tính có bọc hẳn hoi, nhưng phẫu thuật khá khó khăn vì u ở gần các mạch máu lớn của nền sọ và hay dính vào thân não . Do đó có một số tác giả khuyên chỉ nên lấy khối u đến m­c tối đa có thể lấy đ­ược, không cần phải lấy hết toàn bộ. Sau phẫu thuật bệnh nhân sẽ bị điếc và th­ường bị liệt mặt.

Nếu u còn ở ống tai trong,thầy thuốc TMH có thể dùng vi phẫu thuật cắt u, xuyên qua ốc tai.

5         U CUỘN CẢNH (Tumeur du giomus Jugulaire)
Cuộn cảnh (glomus juglaire) là những tiểu thể nhỏ bằng  hai tấm ở trong ống nhĩ (ống nối liền hố cảnh với đáy bom nhĩ), hoặc ở trên hố cảnh , hoặc ở trong hõm nhĩ dọc theo các chi nhánh của giây thần kinh Giacôpsơn (Jacobson).

Cuộn cảnh thuộc về hệ thống các ống rẽ tắt (shunt) ở đầu và cổ trong đó có tiểu thể  động mạch cảnh (corphuscule carotidien).

Các cuộn ở nhiệm vụ kiểm soát và điều chỉnh những thay đối bất th­ường hoặc bệnh lý của tuần hoàn máu ở vùng đầu và cổ.

Về vi thể chúng ta thấy trong cuốn cảnh cũng nh­ trong u cuộn cảnh hai thành phần chính.

- Mạch máu, gồm cod tiểu động mạch và màng l­ới tĩnh mạch dày đặc nối liền với nhau.

- Tế bào đa giác có nguyên sinh chất ­a axit, không ­a chất crôm, xếp thành bf chằng chịt. Ng­ời ta cho rằng các tế bào này có khả năng tiết ra chất hocmon làm nhiệm vụ điều hòa sự co giãn và áp lực các mạch máu ngoài chất đệm có nhiều sợi thần kinh thuộc hệ phó giao cảm.

Do đó, ng­ời ta còn gọi u cuộn cảnh là u phó hạch (Paragangliome).

Khối u có thể phát triển theo nhiều h­ớng: Lúc đầu nó ở trong tai giữa và ống tai ngoài, sau đó phát triển về phía x­ương đá, x­ương chũm , lỗ rách sau,lỗ lồi cầu tr­ước cuối cùng nó có thể xâm nhập vào hố sau của sọ qua hố rách sau gây ra tăng áp lực nội sọ. Khối u cũng có thể phát triển xuống cổ dọc theo hệ thống cảnh chén ép tĩnh mạch cảnh trong gây ra giãn tĩnh mạch d­ới da.

Chúng ta không thấy triệu chứng ác tính trên các tiêu bản của u cuộn cảnh. U cuộn cảnh có thể gặp ơt nhiều ng­ời trong một gia đình: Cha, mẹ,anh , em.

5.1      TRIỆU CHỨNG
Bệnh cảnh của cuộn cảnh thay đổi tùy theo vị trí của khối u. Chúng tôi xin giới thiệu thể điển hình, trong đó bệnh tích xuất phát từ hòm nhĩ có liên quan trực tiếp đến  tại mũi họng. Đây là một loại u mao quản hiếu diễn chậm có xu h­ớng chảy máu, có khả năng ăn mòn các bộ phận kế cận.

5.1.1      Giai đoạn đầu.
 Bệnh bắt đầu bằng những triệu chứng về tai.

ù tai là triệu chứng chính. ù nhiều tiếng , tiếng ù giống nh­ tiếng thổi theo nhịp mạch ở một bên tai, tăng lên khi bệnh nhân làm một cố gắng thể xác nh­ hề vật nặng. Tiếng ù sẽ giảm khi chúng ta đè mạch vào màng cảnh.

Nghe kém là triệu chứng thứ hai. Bệnh nhân nghe kém ở một bên tai, ngày càng tăng. Điếc theo kiểu dãn truyền.

Màng nhĩ của bệnh nhân bị sung huyết máu hồng nhạt, có vài mao quản bị giãn (tia máu) ở phía tr­ước và d­ới.

Tr­ước những triệu chứng nói trên, chúng ta nghĩ đến viêm tai giữa nh­ưng tai vẫn nghe rõ, vòi Ơxtasi không tắc, bệnh nhân không đau, không sốt, không viêm mũi.

Trong một số trường hợp, màng nhĩ đẩy dồn vào về phía ngoài bởi khối u trong hom nhĩ. Nếu chúng ta dùng ống soi spêculum Siecglơ, bơm không khí nén màng nhĩ vào, chúng ta sẽ thấy màng nhĩ đè lên một khối u lổn nhổn như quả dâu tằm màu tím bầm, đạp theo nhịp mạch.

Một đôi khi màu sắc của màng nhĩ thay đổi: màng nhĩ mất bóng trở nên xanh tím. Người ta gọi đó là màng nhĩ xanh.

Khối u lớn dần và làm cho màng nhĩ phồng ra. Nếu chúng ta rạch màng nhĩ thì máu sẽ chảy ra nhiều. Máu chảy kiểu động mạch: máu đỏ tươi, phun ra theo nhịp mạch, không có xu hướng tự cầm, phải nhét bấc thật chặt mới cầm được. Nếu chúng ta không rạch, màng nhĩ cũng sẽ tự đổ vỡ ra và khối u xuất hiện ra ống tai ngoài.

5.1.2      Giai đoạn toàn phát:
5.1.2.1     Triệu chứng về tai.
Các triệu chứng về tai tăng lên một cách rõ rệt.

Điếc:  lúc đầu điếc kiểu dẫn truyền, về sau chuyển sang điếc hỗn hợp hoặc điếc tiếp nhận do thương tổn tai trong.

ù tai: trái với điếc, triệu chứng ù tai thường hay bớt dần, nhất là khi mê nhĩ bị phá hủy.

Chóng mặt: chóng mặt là do khối u lan vào mê nhĩ hoặc vào hố cầu tiểu não.

Nghiệm pháp nước lạnh cho thấy khả năng bị kích thích của mê nhĩ bị giảm nhiều. Nghiệm pháp ghế quay cho thấy phản ứng động mắt còn. Nhưng nếu mê nhĩ bị phá hủy hoàn toàn thì các nghiệm pháp tiền đình đều không trả lời.

Trong một số trường hợp, khối u xâm nhập vào hố cầu tiểu não gây ra hội chứng rễ (chóng mặt, mất thăng bằng, ù tai, điếc, nhức đầu, giảm trương lực cơ, mất phản xạ giác mạc ...).

Khám tai: trong ống tai ngoài có khối u to bằng đầu ngón tay út, màu xám hồng, giống như pôlíp, làm căng cửa tai. Khối u có đặc điểm sau đây:

- Lớp bên ngoài rất dày, xù xì như vỏ cam sành, đập theo nhịp mạch.

- Rất dễ chảy máu: que bông chạm nhẹ cũng gây ra chảy máu, thậm chí có khi tự nhiên nó cũng chảy máu. Một đôi khi tai có chảy mủ do bội nhiễm.

Vùng xương chũm có thể sưng, vùng tuyến mang tai và sau trâm thường bị đóng bánh. Một đôi khi u phát triển về phía máng cảnh, làm phồng cơ ức đòn chũm và da, gây ra phình mạch rối (anévrsime cricoide). Khi sờ có hiện tượng rung (thrill), khi nghe có tiếng thổi.

5.1.2.2     Triệu chứng thần kinh:
Khối u phát triển về phía mê nhĩ và phía lỗ rách sau gây ra bại liệt một số dây thần kinh sọ.

Dây số VII bị liệt theo kiểu ngoại biên do bị chèn ép ở hòm nhĩ hoặc ở mê nhĩ hoặc ở góc cầu tiểu não, thường là liệt toàn bộ, ít khi liệt bán phần.

Các dây số IX, số X, số XI có thể bị liệt riêng lẻ từng dây một hoặc chung cả nhóm. Nếu cả ba dây cùng bị liệt chúng ta sẽ có hiện tượng liệt một bên ở màn hầu, ở hỏng, ở thanh quản, ở cơ thang, ở cơ ức đòn chũm.

Dây số XII cũng thường dễ bị liệt: nửa bên lưỡi bị teo và vẹo về bên bệnh.

Dây số V ít bị thương tổn. Chúng t chỉ thấy dây tam thoa bị liệt khi u lan đến mỏm xương đá.

5.1.2.3     Triệu chứng X quang:
X quang giúp chúng ta đánh giá sự lan rộng của khối u. Chúng ta chụp theo các tư thế sau đây:

- Sule để nghiên cứu xương chũm.

- Sôxê III để xem hòm nhĩ.

- Hirtz để nghiên cứu xương đá.

- Stenvers và Tônơ-Vanhxăng (Towne-Vincent) để xem ống tai trong

- Blôngđô cải tiến (há miệng to) để xem lỗ rách sau.

- Chụp cắt lớp lỗ rách sau:

Trong khi đọc phim cần lưu ý đến những hình ảnh mòn xương ở dọc theo bờ lỗ rách sau, ở xương đá, ở xương chũm, ở hòm nhĩ.

5.1.2.4     Sinh thiết
Sinh thiết cho phép chúgn ta phân loại u cuộn cảnh với các u khác như u mạch máu, u nội mạc, saccôm mạch máu, ung thư tai...

Trong khi làm sinh thiết phải hết sức cẩn thận vì u này chảy máu rất nhiều. Chúng ta nên làm sinh thiết trong phòng mổ, có đủ dụng cụ để cầm máu, và phải chuẩn bị như là một phẫu thuật. Chúng ta dùng thòng lọng để cắt khối u trong ống tai rồi nhét bấc thật chặt vào ống tai.

Đối với khối u không xuất ngoại ra ống tai, ít khi chúng ta chẩn đoán đúng bệnh trước khi mổ và sinh thiết cũng chỉ có thể thực hiện sau khi đã đục xương chũm.

5.1.3      Giai đoạn cuối cùng:
Khối u xâm nhập vào hố não sau, chủ yếu là góc cầu tiểu não qua lỗ rách sau. Bệnh nhân có hội chứng tăng áp lực nội sọ (nhức đầu, tinh thần trì trệ, nôn, mạch chậm, phù nề gai mắt) hội chứng tiểu não (mất thăng bằng, giảm trương lực cơ, mất liên động, mất đồng vận, quá tầm) một đôi khi có cả triệu chứng bó tháp (bại liệt các chi).

Các triệu chứng ở cổ trở nên rõ rệt: phình động – tĩnh mạch cảnh to bằng quả cam, có khi xuống đến hố thượng đòn hoặc lên đến vòm mũi họng

Bệnh nhân sẽ chết vì chảy máu, vì chèn ép nội sọ, vì suy tim (do thông thương giữa động mạch và tĩnh mạch).

Thời gian biến diễn của bệnh kéo dài 5 năm đến 20 năm.

5.2      Các thể lâm sàng
5.2.1      U cuộn cảnh phối hợp với u thể cảnh (corpuscule carotidien)
U tiểu thể cảnh thường xuất hiện trước ở cổ. Năm ba năm sau xuất hiện thêm một u xùi chảy máu ở tai. Hoặc có khi ngược lại, u xùi chảy máu ở tai (u cuộn cảnh) mọc trước, sau đó năm ba năm, u tiểu thể cảnh mới xuất hiện.

5.2.2      Thể u cuộn cảnh ở hai tai:
Rất hiếm, trong sách vở chỉ nêu lên có vài trường hợp.

5.3      Chẩn đoán
Chẩn đoán xác định dựa vào triệu chứng chảy máu và hai xét nghiệm cận lâm sàng chủ yếu: X quang và sinh thiết.

Chẩn đoán phân loại giúp chúgn ta khỏi nhầm u cuộn cảnh với các bệnh sau đây

- Tắc vòi Ơxtasi: trong bệnh này có ù tai, nghe kém nhưng không bao giờ có u xùi trong ống tai.

- Pôlip tai: bệnh này thường đi đôi với viêm tai xương chũm mãn tính và cũgn có chảy máu nhưng ít thôi. Phim X quang cho thấy thương tổn xương hoặc cholestêatôma.

- Ung thư tai: sinh thiết cho phép chúng ta phát hiện ra triệu chứng ác tính.

- Phim động-tĩnh mạch ở cổ: đây là những u đập theo nhịp mạch và có tiếng thổi ở máng cảnh, không có nụ xùi dễ chảy máu trong tai.

5.4      Tiên lượng
Tiên lượng xấu, tuy rằng bản chất của u là lánh tính. U sẽ ăn mòn xương, xâm nhập vào nội sọ gây ra chèn ép thần kinh và não. Điều trị cũng rất khó vì phẫu thuật nguy hiểm. Nhưng có điểm tốt là bệnh biến diễn rất chậm, nhất là ở người có tuổi: có khi bệnh nhân chết vì một bệnh khác trước khi u tiến triển đến giai đoạn nguy hiểm.

5.5      Điều trị
5.5.1      Điều trị bằng phẫu thuật:
Chỉ nên mổ những u còn khu trú trong hòm nhĩ hoặc trong xương chũm. Người ta hay làm phẫu thuật khoét rỗng đá chũm thông thường hoặc khoét rỗng đá chũm mở rộng. Nhưng phẫu thuật này gây ra chảy máu rất nhiều.

Sau đó chúng ta nên gửi bệnh nhân đi chạy quang tuyến X.

5.5.2      Điều trị bằng quang tuyến X:
Đối với những u đã lan rộng, thí dụ như lan ra lỗ rách sau làm liệt các dây thần kinh số IX, X, XI, XII thì không nên mổ mà phải dùng quang tuyến X. Quang tuyến X không trị khỏi u cuộn cảnh nhưng có khả năng làm nhỏ khối u và kìm hãm sự tiến triển trong nhiều năm.

Read More